Ảnh Internet.
Trong lịch sử Phật giáo Trung Hoa có rất nhiều vị cao tăng đi Tây phương cầu Pháp, mang về nhiều bộ kinh có giá trị, phát triển cho Phật giáo sau này. Một trong những nhà sư nổi tiếng nhất là nhà sư Huyền Trang, vốn họ Trần sống vào đời nhà Đường*, nên còn được gọi là Đường Tăng, ngài khởi hành vào năm 629 và dưới ngòi bút tài hoa của Ngô Thừa Ân tên tuổi của ngài đã đi vào văn học sử. Nhưng Huyền Trang không phải là nhà sư đầu tiên của Trung Hoa đến Tây phương cầu Pháp, lịch sử Trung Hoa cho biết vị tăng nhân đầu tiên tiến bước trên con đường gian nan để hướng về Tây phương cầu Pháp, chính là Chu Sĩ Hành thời kỳ Tào Nguỵ** vào năm 260, trước Huyền Trang 369 năm.
Chu Sĩ Hành là người Vĩnh Châu thời Tào Nguỵ, ông xuất gia từ bé, lúc đó giới luật Phật giáo chỉ mới được truyền vào đất Hán, và ông thuộc lớp sa môn đầu tiên xuất gia thọ giới. Trước Chu Sĩ Hành cũng có những người được gọi là xuất gia, nhưng do chưa có giới luật nên chỉ là cắt tóc để phân biệt với người thế tục, nhưng vẫn chưa được truyền thọ theo giới luật, đối với Chu Sĩ Hành đã thọ trì theo giới luật, tuy vào thời ông giới luật Phật giáo vẫn chưa hoàn chỉnh, người đời sau vẫn xem ông như người Hán đầu tiên xuất gia.
Ở vào thời ông xuất gia kinh sách Phật giáo chỉ do một số tăng nhân từ Tây Vực và Ấn Độ mang vào Trung Hoa truyền bá, họ chỉ mang theo một ít quyển kinh. Ở vào thời kỳ đầu này việc dịch kinh sách từ chữ Phạn (Sanscrit) sang chữ Hán cũng chưa được hoàn chỉnh, và cũng do khác biệt giữa hai nền văn hoá, nên việc dịch sai, thiếu sót, khiến người theo học đạo cảm thấy khó hiểu... Thời gian Chu Sĩ Hành ở Lạc Dương nghiên cứu và giảng giải "Đạo hành Bát Nhã kinh", ông thường than rằng một bộ kinh điển quan trọng như vậy của Phật giáo Đại thừa lại được dịch không hết ý, khiến người ta không sao hiểu được ý nghĩa của kinh văn, từ đó ông phát nguyện phải Tây hành cầu Pháp, tìm cho được bản gốc của kinh Bát Nhã.
Năm thứ 5 niên hiệu Cam Lộ thời Tào Nguỵ**
(Năm 260), Chu Sĩ Hành rời Trường An đi về hướng Tây, lặn lội qua bao hiểm nguy gian khổ cuối cùng đến được Vu Điền (Tân Cương bây giờ, giáp với miền Bắc Ấn Độ). Lúc đó Vu Điền là nơi tập trung của Phật giáo Đại thừa, cất giữ rất nhiều kinh điển Phật giáo Đại thừa. Quyển "Quang tán Bát Nhã kinh" do Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch là bản Phạn văn do nhà sư Vu Điền Chỉ Đa La mang đến từ Vu Điền. Chu Sĩ Hành ở Vu Điền có được bản "Phạn văn Hồ bản" của "Phóng quang Bát Nhã kinh", gồm 90 chương, hơn 60 vạn câu. Lúc ấy ở nước Vu Điền Phật giáo Tiểu thừa vẫn còn có thế lực, giáo đồ Tiểu thừa cản trở việc truyền bá kinh điển Đại thừa. Do đó Chu Sĩ Hành chưa thể mang kinh quay về được, mãi đến năm thứ 3 niên hiệu Thái Khang đời Tấn (năm 282), cách thời gian ông ra đi đã hơn hai mươi năm, đệ tử của ông là Phất Như Đàn (Pháp Nhiêu) mới đem bản Hồ kinh đến Lạc Dương. Thêm 10 năm đến niên hiệu Nguyên Khang nguyên niên (năm 292) mới được sa môn Vu Điền là Vô Xoa La và cư sĩ Trúc Thúc Lan dịch sang chữ Hán.Bản thân Chu Sĩ Hành mất ở Vu Điền lúc hơn 80 tuổi, ông đã thực hiện được lời nguyện vì Pháp quên thân.
* Nhà Đường (618 - 907), triều đại nhà Đường bị chia cắt bởi thời kỳ nhà Võ Chu (690 - 705), khi Thái hậu Võ Tắc Thiên chiếm giữ ngôi báu.
** Tào ngụỵ (220 - 265), là một trong 3 nước thời Tam quốc, kinh đô ở Lạc Dương, do con của Tào Tháo là Tào Phi thiết lập.
Tham khảo:
- Lịch sử Phật giáo, Nguyễn Tuệ Chân biên dịch, nhà xuất bản Tôn giáo ấn hành năm 2011.


