PNH


Vãn giác văn chương chân tiểu kỹ... Tô Đông Pha.




Một góc nhìn...


Photobucket
Photobucket

Thứ Sáu, 11 tháng 5, 2012

Nhà sư đầu tiên của Trung Hoa đi Tây phương cầu Pháp.


Ảnh Internet.

Trong lịch sử Phật giáo Trung Hoa có rất nhiều vị cao tăng đi Tây phương cầu Pháp, mang về nhiều bộ kinh có giá trị, phát triển cho Phật giáo sau này. Một trong những nhà sư nổi tiếng nhất là nhà sư Huyền Trang, vốn họ Trần sống vào đời nhà Đường*, nên còn được gọi là Đường Tăng, ngài khởi hành vào năm 629 và dưới ngòi bút tài hoa của Ngô Thừa Ân tên tuổi của ngài đã đi vào văn học sử. Nhưng Huyền Trang không phải là nhà sư đầu tiên của Trung Hoa đến Tây phương cầu Pháp, lịch sử Trung Hoa cho biết vị tăng nhân đầu tiên tiến bước trên con đường gian nan để hướng về Tây phương cầu Pháp, chính là Chu Sĩ Hành thời kỳ Tào Nguỵ** vào năm 260, trước Huyền Trang 369 năm.
Chu Sĩ Hành là người Vĩnh Châu thời Tào Nguỵ, ông xuất gia từ bé, lúc đó giới luật Phật giáo chỉ mới được truyền vào đất Hán, và ông thuộc lớp sa môn đầu tiên xuất gia thọ giới. Trước Chu Sĩ Hành cũng có những người được gọi là xuất gia, nhưng do chưa có giới luật nên chỉ là cắt tóc để phân biệt với người thế tục, nhưng vẫn chưa được truyền thọ theo giới luật, đối với Chu Sĩ Hành đã thọ trì theo giới luật, tuy vào thời ông giới luật Phật giáo vẫn chưa hoàn chỉnh, người đời sau vẫn xem ông như người Hán đầu tiên xuất gia.
Ở vào thời ông xuất gia kinh sách Phật giáo chỉ do một số tăng nhân từ Tây Vực và Ấn Độ mang vào Trung Hoa truyền bá, họ chỉ mang theo một ít quyển kinh. Ở vào thời kỳ đầu này việc dịch kinh sách từ chữ Phạn (Sanscrit) sang chữ Hán cũng chưa được hoàn chỉnh, và cũng do khác biệt giữa hai nền văn hoá, nên việc dịch sai, thiếu sót, khiến người theo học đạo cảm thấy khó hiểu... Thời gian Chu Sĩ Hành ở Lạc Dương nghiên cứu và giảng giải "Đạo hành Bát Nhã kinh", ông thường than rằng một bộ kinh điển quan trọng như vậy của Phật giáo Đại thừa lại được dịch không hết ý, khiến người ta không sao hiểu được ý nghĩa của kinh văn, từ đó ông phát nguyện phải Tây hành cầu Pháp, tìm cho được bản gốc của kinh Bát Nhã.

Năm thứ 5 niên hiệu Cam Lộ thời Tào Nguỵ**

(Năm 260), Chu Sĩ Hành rời Trường An đi về hướng Tây, lặn lội qua bao hiểm nguy gian khổ cuối cùng đến được Vu Điền (Tân Cương bây giờ, giáp với miền Bắc Ấn Độ). Lúc đó Vu Điền là nơi tập trung của Phật giáo Đại thừa, cất giữ rất nhiều kinh điển Phật giáo Đại thừa. Quyển "Quang tán Bát Nhã kinh" do Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch là bản Phạn văn do nhà sư Vu Điền Chỉ Đa La mang đến từ Vu Điền. Chu Sĩ Hành ở Vu Điền có được bản "Phạn văn Hồ bản" của "Phóng quang Bát Nhã kinh", gồm 90 chương, hơn 60 vạn câu. Lúc ấy ở nước Vu Điền Phật giáo Tiểu thừa vẫn còn có thế lực, giáo đồ Tiểu thừa cản trở việc truyền bá kinh điển Đại thừa. Do đó Chu Sĩ Hành chưa thể mang kinh quay về được, mãi đến năm thứ 3 niên hiệu Thái Khang đời Tấn (năm 282), cách thời gian ông ra đi đã hơn hai mươi năm, đệ tử của ông là Phất Như Đàn (Pháp Nhiêu) mới đem bản Hồ kinh đến Lạc Dương. Thêm 10 năm đến niên hiệu Nguyên Khang nguyên niên (năm 292) mới được sa môn Vu Điền là Vô Xoa La và cư sĩ Trúc Thúc Lan dịch sang chữ Hán.
Bản thân Chu Sĩ Hành mất ở Vu Điền lúc hơn 80 tuổi, ông đã thực hiện được lời nguyện vì Pháp quên thân.

*
Nhà Đường (618 - 907), triều đại nhà Đường bị chia cắt bởi thời kỳ nhà Võ Chu (690 - 705), khi Thái hậu Võ Tắc Thiên chiếm giữ ngôi báu.
**
Tào ngụỵ  (220 - 265), là một trong 3 nước thời Tam quốc, kinh đô ở Lạc Dương, do con của Tào Tháo là Tào Phi thiết lập.

Tham khảo:
- Lịch sử Phật giáo, Nguyễn Tuệ Chân biên dịch, nhà xuất bản Tôn giáo ấn hành năm 2011.

--> Read more..

Thứ Tư, 9 tháng 5, 2012

Lan man ngày tháng... (2)

Trong entry trước, cô bạn Marguérite có vào hỏi "Lan man cho qua ngày tháng hả bác H", thì đúng là như vậy, đến một tuổi, đến một lúc nào đó, con người ta sẽ bình thản nhìn cuộc sống trôi qua trước mắt, cũng chẳng cần phải cố gắng phấn đấu để đạt được một cái gì, danh vọng, tiền tài... người ta chỉ mong ước bản thân, anh em, bè bạn, hay hơn thế nữa, xã hội này, thế giới này luôn được bình yên...
Kể ra cũng hơi ngộ nghĩnh, sinh ra trong một gia đình "Bắc di cư", Thiên chúa giáo là đạo gốc từ thời cha ông, bản thân tôi từ nhỏ đã được học giáo lý, được học những ngôi trường của các vị linh mục, đã chịu những phép bí tích cơ bản của đạo Thiên chúa (chỉ chưa chịu phép... xức dầu thánh, hì hì!)*, đọc Tân ước và Cựu ước từ nhỏ, nhưng lớn lên, bước xuống cuộc đời lại quay sang xem sách Khổng, Lão, và Phật giáo..., tới nay cũng đã mấy mươi năm...
Hôm qua tôi nhận được tin nhắn của một người bạn thời còn đi học Trung học đệ nhị cấp (cấp 3 bây giờ), "T. Mai thân mời các anh chị đi uống cafe lúc 18g30 ngày 9/5 tại quán AMI góc HBTrưng - Nguyễn Văn Chiêm. Lý do: tạm biệt để đi định cư CANADA.". Vậy là một người bạn nữa của tôi từ thời còn đi học sắp rời khỏi thành phố này, đất nước này, bạn đi theo diện đoàn tụ gia đình, bởi những người thân đã ở hết bên ấy. Tối nay tôi đã ghé quán cafe ấy, gặp lại được trên một chục bạn bè cũ của cái thuở "ăn chưa no, lo chưa tới". Những con người giờ đầu đã bạc, đa số đã có cháu nội ngoại, ở đâu đó trong thành phố chật hẹp này, mỗi người một số phận, một hoàn cảnh, có bạn đến giờ vẫn chưa lập gia đình, có bạn chẳng may lỡ dở, có bạn lái xe hơi đến, cũng có bạn đến bằng xe ôm, có bạn làm giám đốc một Công ty du lịch khá khá, cũng có bạn bấy lâu nay chật vật kiếm sống từng ngày... Thỉnh thoảng chúng tôi lại có dịp gặp nhau như thế, một dịp nào đó, một cái cớ nào đó, chẳng hạn bạn bè ở nước ngoài về, hay dựng vợ gả chồng cho con cái... hoặc sắp bỏ xứ mà đi... Mỗi người ở đâu đó trong thành phố, có khi chỉ cách nhau một vài cây số, nhưng bạn bè thật khó gặp được nhau đông đủ, mỗi lần như thế là lại ôn lại những kỷ niệm, quá khứ, lại nhắc đến những bạn khác vì lý do gì đó đã không có mặt, vì bận việc, đau ốm, đã ở một tỉnh thành khác, đã sống ở nước ngoài, hoặc đã vĩnh viễn rời bỏ cuộc đời mà đi...
Bạn bè gặp cười đùa với nhau, chúc người bạn sắp đi bình an và may mắn trong cuộc sống nơi xứ người, thật sự khi đã ở vào cái tuổi "Tri thiên mệnh" mà phải ra đi bắt đầu lại từ đầu nơi đất khách quê người cũng chẳng phải dễ dàng, tôi đã có những người bạn như thế, ra đi cũng chỉ để nhủ thầm là vì tương lai của con cái, chứ mình đã bằng này tuổi sang bên xứ người cũng chẳng biết làm gì, có khi chỉ là gánh nặng cho người thân...
Lúc chia tay nhau, mọi người lại chúc bạn may mắn, những cái bắt tay, ôm nhau thật chặt... ai cũng cười, bạn cũng thế, nhưng tôi biết, dấu sau những nụ cười ấy, có khi là những giọt nước mắt, những tiếng thở dài...

*
Xức dầu thánh, một phép đạo của người Thiên chúa giáo, do vị linh mục làm đối với người sắp mất.

Saigon tháng 5/2012.
--> Read more..

Chủ Nhật, 6 tháng 5, 2012

Lan man ngày tháng.

Chắc có lẽ bắt nguồn từ bên nhà của anh bạn trẻ Toro, đi xứ Lào về đã viết mấy bài về Phật giáo ở Vientiane (Vạn Tượng) của xứ Lào, các bạn cũng đã biết Lào là xứ sở của Phật giáo, xứ chùa tháp, đa phần người dân theo Phật giáo, bao đời nay họ có một cuộc sống hiền hoà... Bạn bè hưởng ứng bài viết của Toro vào bàn luận rôm rả, khá xôm tụ. Không những thế cô bạn nguyenthuthuy ở Hà Nội nhân dịp Phật đản còn vào chùa tu mấy ngày hẳn hoi, thật là an lạc... Tôi không phải là một Phật tử, thậm chí còn có cả tên thánh chứ không phải pháp danh, nhưng từ thuở còn đi học đã chơi với các bạn thuộc gia đình Phật tử (sinh hoạt theo tôn chỉ Hướng đạo sinh), và cũng có đọc một vài quyển kinh sách nhà Phật, nên cũng biết lõm bõm được đôi điều... Có thể có nhiều bạn hay đến chùa tụng kinh, hoặc để tìm cho mình đôi ba giây phút yên tĩnh, có khi đã quy y, nhưng không có thời giờ tìm hiểu về đạo Phật, tôi muốn viết đôi điều những gì đã đọc được trong sách vở, những thông tin đây đó, qua những vị tu hành đã có dịp trò chuyện, hay qua những bạn bè thân thiết...
- Trước hết xin nói về Thượng toạ bộ - Đại chúng bộ: chúng ta thường hay nghe nói đến Thượng toạ bộ và Đại chúng bộ. Sau khi Đức Phật nhập diệt khoảng 100 năm, nội bộ của tăng chúng Phật giáo đã có sự chia rẽ do có những cách nhìn khác nhau về giới luật và giáo nghĩa. Ban đầu phân chia thành 2 hệ phái cơ bản, được gọi là Thượng toạ bộ, hay Trưởng lão bộ, vì do các bậc Thượng toạ trưởng lão khởi xướng và đứng đầu. Phái  còn lại thuộc về đa số tăng lữ nên được gọi là "Đại chúng bộ", sau này từ 2 hệ phái cơ bản lại chia thành nhiều tông phái khác nhau. Thượng toạ bộ và Đại chúng bộ có điều giống nhau là đều tin thờ chung giáo nghĩa cơ bản của Phật giáo, như "Tứ đế", "Bát chánh đạo", "Nhị thập nhân duyên". Nhưng một số những vấn đề khác lại có sự khác biệt lớn, chẳng hạn Thượng toạ bộ cho rằng pháp thể tồn tại vĩnh hằng, vì thế Tam thế (quá khứ, hiện tại, vị lai) là thực có, còn Đại chúng bộ nặng về thuyết không, phủ định đối với tính vật chất của thế giới khách quan.
Về cách nhìn đối với Đức Phật, khuynh hướng của Thượng toạ bộ xem ngài như một vị giáo chủ, chứ không phải là vị thần vạn năng, còn Đại chúng bộ nặng về uy lực của Đức Phật, coi nguồn uy lực là vô tận vô biên, siêu việt hơn các vị thần của thế gian. Thượng toạ bộ cho rằng Tâm có ô nhiễm có thanh tịnh, Tâm nhiễm thì không thể giải thoát. Còn Đại chúng bộ cho rằng "Tâm tánh bổn tịnh" (tâm, tánh vốn thanh tịnh), con người thông qua tu tập đều có khả năng giải thoát.
Sau này Phật giáo Thượng toạ bộ ở Ấn Độ dần mai một, nhưng Phật giáo truyền về phía Nam như Sri Lanca, Thái Lan, Miến Điện... trở thành đại diện cho Phật giáo Thượng toạ bộ.
- Phật giáo Đại thừa - Mahayana, và Phật giáo Tiểu thừa - Hinayana: từ "Thừa" (Yana) theo tiếng Phạn có nghĩa là "Cỗ xe" hay "Con đường". Vào khoảng thế kỷ thứ 1 Công nguyên, tại Ấn Độ hình thành một số tư tưởng học thuyết mới về giáo nghĩa, giáo luật, mục đích của hệ phái này là "phổ độ chúng sinh", giáo nghĩa của họ được ví như cỗ xe hay con thuyền to lớn có thể chở được vô số chúng sinh từ bờ sinh tử bên này, đến Niết bàn giải thoát ở bờ bên kia, cho nên hệ phái này tự xưng là Đại thừa, và xem Phật giáo nguyên thuỷ vốn có và các phái khác liệt vào hàng Tiểu thừa. Cách gọi "Tiểu thừa" như vậy bản thân các hệ phái được gọi là "Tiểu thừa" không thừa nhận, ở các nước như Sri Lanca, Thái Lan, Miến Điện... đều xưng là "Nam truyền Thượng toạ bộ Phật giáo" từ trước đến nay.
Trong nhiều sách vở bây giờ ghi chép dùng từ Phật giáo phát triển thay cho Phật giáo Đại thừa, và Phật giáo nguyên thuỷ thay cho Phật giáo Tiểu thừa.
- Phật giáo Nam tông và Phật giáo Bắc tông: gọi Phật giáo Nam tông (Nam truyền PG) và Phật giáo Bắc tông (Bắc truyền PG), là gọi theo hướng mà Phật giáo Ấn Độ truyền ra ngoài nước, chẳng hạn Phật giáo Ấn Độ truyền về các nước phía Nam như Sri Lanca, Miến Điện, Thái Lan... là Phật giáo Nam tông, còn truyền về phía Bắc như Trung Hoa, Nhật Bản, Cao Ly, Việt Nam... là Phật giáo Bắc tông, còn theo giáo nghĩa Phật giáo Nam tông chủ yếu theo hệ phái Thượng toạ bộ (PG Tiểu thừa, PG Nguyên thuỷ), còn Phật giáo Bắc tông chủ yếu theo phái Đại thừa (PG Phát triển).
Kinh điển của Phật giáo Nam tông được dịch từ chữ Pali, là ngôn ngữ cổ đại Ấn Độ lưu hành trong giới đại chúng, bình dân, ngược lại kinh điển của Phật giáo Bắc tông được dịch từ Phạn ngữ, cũng là ngôn ngữ cổ đại Ấn Độ nhưng được lưu hành trong tầng lớp quý tộc, có học thức... Như vậy chúng ta cũng đã thấy ý nghĩa của kinh sách PG Nam tông chắc chắn có sự khác biệt với ý nghĩa của kinh sách PG Bắc tông.
Hiện nay Phật giáo hình thành nhiều tông phái như Thiền tông, Tịnh độ tông, Mật tông... Riêng Mật tông phổ biến ở Tây Tạng, Mông Cổ, chủ trương kết hợp giáo lý, bùa chú để tìm giải thoát...
Một vài nét về Phật giáo, mong rằng có thể giúp cho các bạn một chút khái niệm cơ bản về đạo Phật...

Tham khảo:
- Lịch sử Phật giáo - Nguyễn Tuệ Chân biên dịch, nhà xuất bản Tôn giáo ấn hành năm 2011.


--> Read more..

Thứ Bảy, 5 tháng 5, 2012

Phật Đản.

Hôm nay ngày rằm tháng tư năm Nhâm Thìn (2012 dương lịch), kỷ niệm Phật Thích Ca Đản sinh. Tôi nghe nhiều người nói Phật sinh mùng 8 tháng tư, chứ không phải rằm tháng tư, tuy nhiên Phật giáo thế giới đã thống nhất lấy ngày 15 - 4 âm lịch (ngày trăng tròn tháng Vesak làm ngày Tam hợp), là ngày Phật Thích Ca Đản sinh, Thành đạo và nhập Niết bàn. Năm nay là năm Phật lịch 2556. Nếu năm Tây lịch còn gọi là Công nguyên - CE (Common Era), được tính từ năm chúa Jesus ra đời là năm thứ 1 (không có năm số 0) đến nay đã 2012 năm. Phật lịch lại không tính từ năm đức Phật ra đời như Tây lịch. Năm đầu tiên của kỷ nguyên Phật giáo - BE (Buddhist Era) hay còn gọi là Phật lịch được tính từ năm đức Phật nhập Niết bàn, lúc ấy ngài đã 80 tuổi.
Thật ra ngày sinh và năm sinh thực sự của đức Phật cho đến nay vẫn chưa được xác định rõ ràng. Về năm sinh, theo truyền thống, đức Phật ra đời vào năm 624 trước Công nguyên (TCN), cũng có nhiều sách vở nói là năm 560 TCN, hoặc năm 448 TCN.
Một vài dòng thông tin nhân ngày Phật Đản.
--> Read more..

Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2012

"Như thị ngã văn"

Chắc bất kỳ bạn nào đã đọc qua một quyển kinh Phật giáo cũng đều nhận thấy điều này, truớc khi vào nội dung của bài kinh cũng đều có câu "Như thị ngã văn", có nghĩa là "Tôi nghe như vầy". Chẳng hạn mở đầu của bộ kinh Phật tự thuyết (thuộc Tiểu bộ kinh), "Tôi nghe như vầy. Một thời thế tôn trú ở Savatthi (Xá Vệ), tại Jetavana (Kỳ Đà Lâm), ngôi vuờn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc)... Tôi còn nhớ đã lâu, một hôm ngồi uống cà phê với một nguời bạn, bạn đã từng bán sách và cũng thuờng đọc nhiều loại sách, nhân bàn về kinh sách Phật giáo, nói về câu "Như thị ngã văn" bạn nói vui, "Ta nghe như vậy" có ý nghĩa là đức Phật muốn nói những gì ngài giảng thuyết chỉ là nghe nói lại, chứ không phải là do ngài nghĩ ra, nếu sau này có gì không phải, nguời đời sau cũng đừng có đổ thừa cho Phật... và tôi cũng hơi thắc mắc về câu "Như thị ngã văn" này, nhưng không biết hỏi ai.

Cho đến một hôm tôi đọc đuợc  trong quyển sách "Tìm hiểu ngôn ngữ kinh điển Phật giáo", do Đại đức Thích Tâm Thiện viết, Ban Văn hóa trung uơng Giáo hội PGVN thực hiện và Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh xuất bản năm 2000 viết như sau:

"Theo lịch sử, kinh điển đuợc kết tập (ghi chép lại) sau khi đức Phật qua đời. Lần thứ nhất xảy ra sau Phật diệt độ khoảng một tuần, lần thứ hai cách 100 năm sau, lần thứ ba cách 218 năm, tức năm 325 truớc tây lịch. Trong những lần kết tập kinh điển, đại hội dùng phuơng pháp trùng tụng và ghi chép lại toàn bộ lời dạy của đức Phật. Do đó, mở đầu  các văn bản kinh điển cũng bắt đầu bằng bốn chữ "TÔI NGHE NHƯ VẦY" (Như thị ngã văn - Evam me sutam). Điều này nhằm ám chỉ rằng những điều ghi chép lại là đuợc nghe từ miệng của đức Phật. Từ đó kinh (Sùtra) đuợc hiểu là những gì do chính đức Phật nói ra, hoặc đuợc sự chứng nhận của Phật. Nguợc lại những gì không phải do đức Phật nói, hoặc không đuợc sự xác chứng của Phật thì không thể gọi là kinh.. Vì thế, nguyên tắc chung của các thể tài kinh điển là sự ghi chép lại những điều đức Phật dạy, hoặc những điều đã đuợc đức Phật xác nhận bằng cách ngôn "Tôi nghe như vầy", ở đầu tất cả các bản kinh. Chữ "Tôi" trong câu, theo lịch sử, là tuờng thuật của ngài A Nan, vì thế "Tôi" tức là Tôn giả A Nan."

Nhân mùa Phật đản cũng xin viết vài dòng về Phật pháp, hoan hỉ thay!

--> Read more..