Thứ Năm, 9 tháng 8, 2012
Thứ Ba, 7 tháng 8, 2012
Tên gọi.

Phàm mọi thứ trên đời đều có một tên gọi, từ đồ vật đến con người cho tới cả ma quỷ, thần thánh, tất thảy không trừ. Tôi nhớ hồi xưa còn nhỏ khoảng thời học tiểu học lớp ba lớp tư (khoảng lớp hai lớp ba bây giờ), có lần đi học giáo lý ở nhà thờ (lúc ấy bị bắt buộc, không cách chi trốn thoát), ông thày dạy giáo lý có kể một câu chuyện về việc đặt tên của Đức Chúa trời cho muôn loài (chẳng hiểu ra sao mà câu chuyện cách nay cả nửa thế kỷ nó lại còn nằm trong trí nhớ), đại khái câu chuyện như thế này, có lẽ nhiều bạn cũng biết, "Ở vào thời hồng hoang lúc Thượng đế mới tạo ra muôn vật, ngoại trừ người nam đã được ngài đặt tên là Adam, và người nữ được ngài đặt là Eve, còn lại muôn loài ngài chưa kịp đặt cho một cái tên, khi ấy muôn loài đều có chung một ngôn ngữ có thể nói để cho nhau hiểu, không có tên gọi riêng cho nên mọi chuyện cứ nhặng xị lộn tùng phèo, chẳng thể phân biệt được ai vào với ai, muôn vật thấy thế mới tâu lên Thượng đế điều này, quả thật ngài cũng thấy rắc rối, thế là ngài dặn muôn vật ngày hôm sau hãy đến sớm để ngài đặt tên cho.
Hôm sau mới tờ mờ sáng muôn loài đã lũ lượt kéo đến gặp Thượng đế nơi Thiên đường, những con vật đến sớm đều chọn được cho mình một cái tên đẹp đẽ, chẳng hạn Hoàng Anh, Hoàng yến, Họa mi, Sơn ca... hay một cái tên oai hùng như Cọp, Beo, Voi, Sư Tử, hoặc có vẻ... gấu như Gấu ngựa, Gấu chó, Voi, Tê giác, Hà mã..., những con vật ham chơi hoặc lười biếng ngủ dậy trễ đến sau thì được một cái tên xấu hơn, như Két, Sẻ, Cú... hoặc Chồn, Cáo, Cầy... Loài cây cũng thế (aha, xưa cây cũng có chân đi được chứ không mọc rễ đứng yên như bây giờ), Loài nào tới sớm chọn được những tên như Mai, Lan, Cúc, Trúc... Mơ, Mận, Bồ quân, Hồng đào, loài nào đến sau thì Mít, Ổi, Sấu, Na, Mãng cầu, hoặc là... Bình bát... Đến gần trưa thi việc đặt tên các loài đã xong, nhưng có một loài rau ham chơi lúc bấy giờ mới chạy tới, nhìn cây rau bé nhỏ chẳng có gì đặc biệt Thượng đế ngập ngừng (có lẽ từ sáng tới giờ ngài đã mệt và cũng đã nghĩ hết tên để gọi), trong khi chưa nghĩ ra được tên ngài nói... thì là... thì là... Cây rau bé nhỏ này lại tưởng đấy là tên do Thượng đế đặt nên vội cám ơn rối rít và chạy biến, thế là có tên rau Thì là... Đấy, nguồn gốc tên các loài là như thế..."
Nhưng mà như chúng ta đã biết cuộc sống phát triển không ngừng nghỉ, sau khi hoàn tất sứ mạng ban đầu là tạo dựng ra trời đất muôn loài thì Thượng đế giao quyền lại cho Adam, Eve và lui về trời, con người tiếp tục sứ mạng của Thượng đế, tiếp tục sinh sôi, chế tạo ra đủ thứ, hình thành nên những đất nước, mọi thứ dụng cụ, nơi chốn để ở... Ở những nơi xứ sở khác thì không rõ việc đặt tên ra sao? Chứ ở xứ mình thì việc đặt tên chẳng hạn cho người, địa danh thấy sách vở chép như thế này...
Xưa đối với những đứa trẻ mới sinh ở nhà quê thường gọi là thằng cu cái hĩm, hoặc là cún, vện, đực... rồi lâu ngày thành cái tên. Những gia đình có trí thức hơn hoặc nơi thành thị thường lấy tên các loài cây, hoa, can, chi... hoặc những tên có ý nghĩa trong sách vở đặt cho con cái, chẳng hạn con gái là Huệ, Lan, Mơ, Mận... hay Dung, Hạnh... Con trai là Hùng, Dũng... Ất, Giáp, Bính, Đinh, Tý, Sửu, Dần, Mẹo..., cũng có người lấy số thứ tự đặt cho con cái Nhất, Nhị, Tam (chữ Nho), hoặc Bảy, Tám, Chín, Mười Hai... Thuở nhỏ gần kế nhà bên tôi có người lấy thước tấc đặt tên cho con là Trượng, Thốn, lại cũng đặt theo thứ tự có ý nghĩa như Cầu, Khẩn, Nguyện... Cũng có gia đình làm nghề lang (thày thuốc) lấy luôn tên các vị thuốc mà đặt Sâm, Nhung, Quy, Hồi, Thục... hay thích chim chóc đặt tên cho các con rặt một loài chim, Sáo, Sẻ, Khướu... Bây giờ thời buổi văn minh tên gọi của người ta thường đặt rất đẹp nhất là nơi phái nữ, chẳng hạn Mộng Tuyền, Thanh Thúy, Thanh Nhã, Thúy Loan, Thu Ba...
Còn về địa danh? Thường người ta cứ coi theo chỗ đó có cái gì đặc sắc, quen quen cứ thế mà gọi, chẳng hạn từ các loài cây, ở Saigon rất nhiều nơi địa danh được hình thành từ tên cây, chẳng hạn Vườn Xoài, Vườn Lài, Vườn Chuối, cây Da Xà, Gò cây Mai, Ngã ba cây Quéo, Ngã tư cây Thị, Ngã ba Hàng Xanh (thực ra là tên cây Sanh, cây Si), cầu Sơn (cây sơn ta), Gò Vắp, Mười tám thôn vườn Trầu... còn nhiều nữa kể không xiết... Cũng có khi địa danh là tên người, như chợ Ông Tạ, chợ Bà Hoa, cầu Ông Lãnh, cầu Ông Thìn, vùng Bà Điểm, Bà Hom, Bà Quẹo... hoặc ở đó chuyên buôn bán thứ gì, hoặc sản xuất thứ gì đấy mà thành tên gọi như Chợ Thiếc, Chợ Búng (ở Bình Dương, thực ra là Bún vì nơi đó xưa có nhiều lò làm bún), Cầu Muối, Xóm Củi, Lò Gốm, Xóm Đất (xóm này gần Lò Gốm, chuyên bán đất sét để làm đồ gốm), Xóm Chiếu (chuyên dệt chiếu)... Riêng tên một ngôi chợ nổi tiếng và lâu đời ở Saigon là chợ Bến Thành, xưa kia chợ gần nơi bến ghe (kênh rạch nay đã lấp), và ngôi thành cũng đã bị phá...
Tên gọi xưa nay đã được hình thành như thế đấy...
Thứ Bảy, 4 tháng 8, 2012
Tản mạn chữ nghĩa.

Bên nhà bạn Toro có viết bài về một ông Phật sống, có nói ông này tên gọi ngoài đời là Ba Chà, người Chà Và (Ấn Độ). Trong comments thì tôi và chị huynhtran có nói tới chữ Chà Và. Cái chữ Chà Và bây giờ ít được nhắc tới, nhưng hồi tôi còn nhỏ thì hay thấy nói, thuở tôi còn học tiểu học mấy năm cũng có học chung với một cu cậu người Chà, tôi không còn nhớ tên gì nhưng trong tên của cậu ta tôi vẫn còn nhớ có từ Ma hô mét, cậu ta cùng lứa tuổi ốm ốm nhưng cao hơn đám nhóc tì người Việt nửa cái đầu, tên của bạn khó gọi đám nhóc tì cứ một tiếng "Chà" mà kêu, chưa học hết mấy năm tiểu học một hôm nghe cô giáo thông báo bạn này nghỉ học để về nước Pakistan cùng gia đình, và bạn là người theo đạo Hồi, thú thật hồi nhỏ cũng chẳng biết nước Pakistan ở đâu hay đạo Hồi là thế nào.
Không biết các nơi khác thì sao chứ ở Saigon thời tôi còn nhỏ người ta dùng chữ "Chà Và" hoặc rút gọn lại là "Chà" để gọi những người có nước da đen, tướng tá thường cao to hơn người Việt, khuôn mặt có nhiều nét của người Âu tuy nước da họ đen, và thông thường họ là những người Ấn Độ, những nghề mà người Chà Và hay làm thường thấy, nơi người giàu có là chủ nhân hãng xuất nhập cảng, chủ những tiệm vải lớn ở trung tâm Saigon, hay kinh doanh địa ốc, xây dựng nhà cửa để bán hay cho mướn các căn hộ kiểu appartements, người trung lưu khá khá làm chủ các tiệm ăn chuyên bán món "cà ri nị" mà có lần tôi được ông cụ tôi dắt vào ăn món cà ri cay xé lưỡi, họ cũng cho vay nặng lãi "xanh sít đít đui" (tiếng Pháp cinq - six - dix - douze) mà trong sách của học giả Vương Hồng Sển có nhắc đến là vay "bạc Chà". Nghèo hơn thì họ hay đi giao sữa tươi, nuôi dê, cũng có một nghề mà hồi đó thấy mấy ông Chà hay làm, đó là nghề "gác dan" từ tiếng Pháp "Gardien" có nghĩa là người canh gác mà ra, mấy ông Chà gác dan hay đứng coi mấy cao ốc có người ngoại quốc ở hay làm việc, cũng có những khách sạn lớn sang trọng như Caravelle, hay Continental mướn mấy ông Chà to lớn bệ vệ, ăn mặc quần áo đại lễ trắng mốp tương phản với màu da của họ, trông oai vệ như tướng lãnh cầu vai đeo gù đứng canh cửa.
Mấy ông Chà hay người Chà Và ở Saigon thời đó thường là người Ấn Độ vì người Ấn Độ ở Saigon khá nhiều, và dân Saigon cứ thế mà gọi, bất kể có thể người đó không thực sự là Ấn Độ, cũng có thể là người Pakistan hay Thổ Nhĩ Kỳ, vì mấy người nước đó trông giống giống nhau, nước da đen, mấy năm trước đây tôi có tiếp xúc với một ông đen đen như thế, kiều người Chà, tưởng Ấn Độ nhưng ông ấy nói sinh ở VN nhưng bố mẹ là Thổ Nhĩ Kỳ sang VN từ hồi xưa thời Pháp...
Nhưng tại sao hồi đó dân Saigon lại gọi những kiều dân đa số là người Ấn này là Chà Và hay Chà, một từ ngữ không liên quan gì đến Ấn Độ? Tôi nhớ trong một cuốn sách viết về Saigon xưa của học giả Vương Hồng Sển nhưng không nhớ rõ ở quyển nào, có nói đến "bọn Chà chuyên cho vay bạc lãi", và có giải thích từ Chà Và là do chữ JAVA là tên một hòn đảo lớn của nước Nam Dương (Indonesia) phiên âm ra tiếng Việt, và ông cũng có nói đây là một sự nhầm lẫn vì đảo Java mà phiên âm ra tiếng Việt là Chà Và thì đâu có liên quan gì đến người Ấn.
Và quả thật mấy hôm nay cuối tuần rảnh rỗi tôi có lan man đọc lại một quyển sách khá xưa viết về xứ Nam bộ thì thấy có lẽ là như thế, đó là quyển Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức, do Viện Sử Học và Nhà Xuất Bản Giáo Dục ấn hành năm 1999 (Đỗ Mộng Khương - Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch, Đào Duy Anh hiệu đính và chú thích), quyển sách này tôi cũng mới kiếm được gần đây, trước đây khá lâu tôi cũng đã đọc một lần mượn được của một người bạn có thời gian làm nghề bán sách cũ, tôi nhớ lúc đó cũng có đọc được một chi tiết về từ Chà Và. Nay đọc lại nơi mục nói về đảo Phú Quốc ở Trấn Hà Tiên có đoạn viết như thế này: "Lúc Thế Tổ Cao hoàng đế bị phong trần xe rồng đến đấy, nhân dân xứ này ra sức trung thành, thám báo tình hình giặc, cung ứng vật dụng. Cho nên sau khi bình định, gia ơn miễn thuế thân và dao dịch cho xứ ấy (nguyên văn trong sách, tôi nhấn mạnh chữ dao vì thấy có vẻ kỳ kỳ, không biết có phải là giao dịch tức thuế trong buôn bán, hoặc là lao dịch, tức là lao động công ích) dù thuyền đánh cá, thuyền đi buôn đều không bị đánh thuế. Chỉ vì là nơi biển xa hẻo lánh, phải phòng bị giặc biển Chà Và nhân sơ hở đến ăn cướp, cho nên đặt quan thủ ngự, lấy dân làm lính, đều đủ khí giới cùng nhau giữ gìn để giữ bản cảnh mà thôi".
Trong đoạn văn trên thì rõ ràng từ "Chà Và" không phải để chỉ người Ấn Độ, vì người Ấn Độ ở quá xa đảo Phú Quốc, cũng không phải để chỉ riêng người Khmer hay Thailand (tuy Phú Quốc ở gần Khmer và Thái Lan), vì trong sách Gia Định Thành Thông Chí cũng hay nhắc đến hai nước này dưới tên gọi là Cao Mên hay Mên, còn Thailand được gọi là Xiêm La, Xiêm, hay Tiêm La. Từ Chà Và như học giả Vương Hồng Sển có giải thích là phiên âm tiếng Việt của đảo Java như đã nói, còn "giặc biển Chà Và" như trong sách Gia Định Thành Thông Chí nói đến có lẽ là đám giặc biển bao gồm cả người Mên, người Xiêm, hoặc người ở vùng đảo Java ở vùng biển phía Nam (trong sách vở gọi chung là Nam đảo) đến quấy nhiễu. Như vậy có lẽ ban đầu từ Chà Và cũng là để chỉ sắc dân có nước da đen nhưng là ở vùng Java nói chung, người thuộc vùng Đông Nam Á, chứ không phải da đen của người Ấn Độ. Sách cũng có chép vào thời nhà Nguyễn Gia Long chiến tranh với quân Tây Sơn, thì nước Việt cũng thường có những cuộc chiến tranh với nước Cao Mên và Xiêm La, và đám giặc cướp người Thổ (chỉ người Mên) hoặc Xiêm La cũng thường sang những vùng giáp ranh như Hà Tiên nước ta quấy nhiễu.
Người ta cũng thường nói ngôn ngữ, từ ngữ dùng lâu thành quen, cũng như con đường đi lâu mà thành, có thể từ ngữ mới đầu dùng sai nhưng nói miết, viết miết chẳng còn ai để ý đến cái sai nữa. Nhưng tìm lại nguồn gốc ban đầu của một từ ngữ đôi khi cũng thấy thú vị.
Thứ Sáu, 3 tháng 8, 2012
Phong thổ phương Nam.
Lốc xoáy vòi rồng làm 800 nhà sập, tốc mái
TTO - Một cơn lốc xoáy mạnh bất ngờ ập đến 4 tỉnh miền Tây là Bạc Liêu, Bến Tre, Trà Vinh và Sóc Trăng đã làm 800 căn nhà sập, tốc mái. Ghi nhận ban đầu có ít nhất 2 người chết và hàng chục người bị thương.
Bạc Liêu: 165 nhà sập, tốc mái; 13 người trọng thương
Trong khi đó, cơn lốc mạnh lướt qua địa bàn huyện Hồng Dân và Phước Long ở Bạc Liêu làm 165 nhà dân bị sập, tốc mái.
Nhà cửa tan hoang sau cơn lốc (Ảnh: báo Tuổi Trẻ Online)
Mấy hôm trước trên báo Tuổi Trẻ có nói đến lốc xoáy tại miền Tây Nam bộ đi qua mấy tỉnh, làm rất nhiều nhà cửa bị sập, tốc mái hư hỏng nặng, cùng thiệt hại về người, hoa màu. Miền Nam tuy là vùng đất khí hậu ôn hòa, thiên nhiên không đến nỗi giông bão khắc nghiệt như các vùng khác, nhưng thỉnh thoảng cũng có giông gió như thế, gây thiệt hại cho con người.
Cuối tuần rảnh rỗi, tình cờ tôi ngồi giở đọc lại quyển Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức* viết xưa kia, thấy có chép: "Ở Gia Định thường có nhiều mây đỏ, đều do khí hỏa ở phương ly phát ra. Lại tự có mây trong đất bốc lên, cơn đen mù mịt, mây móc cuốn xoay, rộng chừng khoảng 1, 2 dặm, trong khoảng ẩn hiện thấy như hình đầu rồng, hình đuôi rồng, gió cuộn nước dềnh, sông khô chằm hạn, nhà cây xiêu đổ, gió bụi xoay vòng, từ dưới mà lên, bỗng mưa lai láng tục gọi là "rồng lấy nước". Nhưng người ta cũng không hay thường thấy". Thì ra xưa ở Nam bộ cũng đã xảy ra thiên tai như thế tuy không phải thường xuyên.
Sách cũng có chép tên Gia Định hay Gia Định thành là chỉ chung tất cả miền Nam bộ, cho đến đời Gia Long cũng gọi như thế, và phương Nam thuộc về quẻ Ly là nơi mặt trời và nơi lửa nóng...
Xem thế cũng biết khi xưa chưa có đài khí tượng và dự báo thời tiết, người xưa cũng đã rất biết nhìn và rành rẽ về phong thổ, thời tiết...
* Gia Định Thành Thông Chí, Trịnh Hoài Đức, dịch giả Đỗ Mộng Khương, Nguyễn Ngọc Tỉnh, hiệu đính và chú thích Đào Duy Anh. Viện Sử học, Nhà Xuất bản Giáo Dục xuất bản năm 1999.
Thứ Năm, 2 tháng 8, 2012
Tục lệ.

Hồi này chẳng hiểu sao mà tôi có dịp tham gia đủ mọi thứ lễ lạt, mấy cái đám cưới, mấy cái đám giỗ, đám ma, đầy tháng, thôi nôi..., đám chia tay về hưu, kể cả mừng người từ ngoại quốc về, điện thoại báo tin không quên nhắn nhủ, mấy hôm nữa rảnh rảnh sẽ hú cà phê, và không quên một chầu nhậu... bờ kênh Nhiêu Lộc nữa nhé! Ôi thôi đủ mọi thứ đám, chỉ nội cái phải có mặt, tay bắt mặt mừng, ăn uống, cười nói... cũng phát... bịnh... Ấy cũng là do cái tục lệ xứ mình, gì cũng là lý do để lễ hội, để chén chú chén anh, nói theo như biện bạch của mấy ông nhậu là "vui cũng nhậu, buồn cũng nhậu, không vui không buồn cũng nhậu...", hôm nọ trong buổi tiệc chia tay mấy đồng nghiệp đến tuổi về hưu tại cơ quan có nghe một cô bạn đồng nghiệp nói "những người hay nhậu là con Ngọc hoàng". Aha, thế thì dân tộc Việt Nam mình bây giờ đa số là con Ngọc hoàng* mất rồi, mà cái ông Ngọc hoàng hình như có nguồn gốc từ bên Tàu thì phải?
Trong bài đề tựa của cụ Phan Kế Bính nơi quyển sách Việt Nam phong tục do cụ viết đã xa xưa, có chép như thế này: "An nam ta kể từ lúc có nước đến giờ thì đã ngoại bốn ngàn năm. Xong về đời Hồng Bàng thì còn là một nước tối cổ, tục khi đó hẳn cũng như Mường Mán bây giờ. Kế đến hồi Tàu sang cai trị, thì những văn minh của Tàu mới dần dần truyền bá sang nước ta. Bấy giờ ta mới có học hành, có giáo hóa, thì phong tục ta cũng mở mang thêm ra ít nhiều. Từ đời Ngô Quyền gây nền độc lập, rồi đến Đinh, Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, cho chí Nguyễn triều ta, nước ta đã thành ra nước tự chủ; mà trong cách chính trị, cách giáo dục, điều gì cũng là noi theo của Tàu, cho nên phong tục ta bây giờ, phần nhiều do ở Tàu mà ra cả." Mà cụ Phan nói đúng thật, cứ thử nhìn những ngày lễ lạt nơi xứ mình thì rõ, từ tết Nguyên đán dịp đầu năm, cho đến Nguyên tiêu, Thanh minh, Hàn thực, Giết sâu bọ, Trung nguyên (rằm tháng bảy), Trung thu, Táo quân, Thần tài, Thổ địa... nhất nhất đều noi theo người Tàu... Nhưng mà lâu năm lâu ngày, qua bao nhiêu thế hệ, cũng đã trở thành lễ lạt của người mình...
Sách Việt Nam phong tục có chép "Tục ta hỏi thăm đẻ con trai hay con gái, người có chữ thường nói lộng chương hay lộng ngõa, (nghĩa là chơi ngọc hay chơi ngói). Điển ấy do ở Kinh Thi: sinh con trai thì quý hóa mà cho chơi bằng hạt ngọc, sinh con gái thì khinh bỉ mà cho chơi bằng hòn ngói. Lại có người hỏi huyền hồ hay huyền cân (nghĩa là treo cung hay là treo khăn mặt). Điển ấy cũng do tục Tàu: đẻ con trai treo cái cung ngoài cửa, mà đẻ con gái treo cái khăn mặt. Ta dùng điển mà hỏi thăm chứ không có tục ấy."
Rồi khi đầy một năm thì có tục gọi là Thử con - Sách cũng chép "Tàu có tục để con đầy một năm thì làm một tiệc thử con. Hôm ấy tắm rửa cho con sạch sẽ, mặc quần áo mới, con trai thì bày đồ cung tên, bút giấy; con gái thì bày đồ kim, chỉ, dao, kéo. Lại bày những đồ chơi quý báu ở trước mặt đứa trẻ để nghiệm xem nó tham liêm ngu trí làm sao, chữ gọi là việc thí nhí (thử trẻ). Các nhà đại gia ở ta cũng theo dùng tục ấy, nhưng chỉ bày ít món đồ ấn triện, cung tên, bút mực, cày bừa, gọi là trong bốn món văn, vũ, canh, độc, để nghiệm đứa trẻ mai sau làm gì thôi." Hôm trước đi ăn đám thôi nôi như thế, đứa trẻ cũng được bày một cái khay trước mặt, trong đó có bánh kẹo, bút viết, quyển tập, đồ chơi, cả một cái kềm nhỏ nhỏ, thời buổi văn minh thêm cái điện thoại di động... Đứa bé bốc ngay cái điện thoại di động toét miệng cười, thế là bố mẹ ông bà vui sướng, aa, mai sau cu tí ắt hẳn làm giám đốc...
Hai chủ nhật liền kề tôi phải đi ăn 2 cái đám cưới bà con ở Biên Hòa, một cái đám cưới ăn ở nhà bị tra tấn bằng âm thanh như tôi đã kể, đám cưới sau ăn ở nhà hàng xịn tên Tây Mỹ Golden... gì đó đàng hoàng, không có cảnh ca sỹ chạy sô lên hát vội vàng hai ba bản nhạc rồi dọt lẹ, mà là 2 cây vĩ cầm, saxo, organ, trống điện tử... chơi nhạc nhẹ khá hay... chú rể kêu tôi bằng chú (đám cưới trước kêu bằng ông). Tôi có bà con với bên nhà trai bấy lâu nay định cư bên Mỹ về cưới vợ cho con trai, bên cô dâu ở Biên Hòa bố mẹ là chủ tiệm vàng, nói chung là "môn đăng hộ đối". Trong thiệp nhà trai mời ghi 12 giờ nhập tiệc, cho nên từ Saigon 10 giờ tôi khởi hành, 11 giờ 15 là đến nhà hàng, và ngồi chờ từ đó cho đến 1 giờ 30 trưa mới làm lễ, và gần 2 giờ mới cầm đũa, đói meo. Tuy khách khứa đã thấy khá đông, nhưng nhìn quanh thấy bàn tiệc phía bên nhà trai vẫn còn trống đến cả gần 10 bàn, hỏi ra mới biết bố mẹ chú rể (tôi gọi là anh chị) theo lệ nước ngoài đã mời thì đều đặt bàn, chẳng hạn ghi trong thiệp mời gia đình... là đã tính đủ gia đình đó bao nhiêu người, bất kể ở xa hay gần, trong khi khách khứa đến thường chỉ đi một hoặc như gia đình tôi là 2 người, bàn ăn dư quá chừng là thế. Còn giờ giấc cũng thế, quen kiểu ngoại quốc mời 12 giờ là đúng 12 giờ nhập tiệc, không dè ở Việt Nam có lệ theo giờ... dây thun, 12 giờ mới lèo tèo có vài người...
Tục lệ, hay phong tục tập quán là cái thói quen khó bỏ, biết làm sao được...

