PNH


Vãn giác văn chương chân tiểu kỹ... Tô Đông Pha.




Một góc nhìn...


Photobucket
Photobucket

Thứ Hai, 15 tháng 10, 2012

Lại... lai rai chữ nghĩa.


                                                             Ảnh Internet.



“Cứu khổ phò nguy” đúng hay sai?

TT - Trên báo Tuổi Trẻ ra ngày thứ hai 8-10 có tựa bài “Khát vọng cứu khổ phò nguy”. Bạn đọc Vạn Lý cho rằng cụm từ Hán Việt xưa nay xuất hiện trên sách báo đúng ra là “cứu khổn phò nguy”. Cụm từ này rất quen thuộc, được dùng khá phổ biến. Nếu tác giả cải biên thành “cứu khổ phò nguy” thì cũng có nghĩa tương tự nhưng hẹp hơn rất nhiều và nhất là không thuận tai những người có chút ít chữ nghĩa về Hán Nôm.

PGS-TS BÙI MẠNH HÙNG trả lời:

- Sự quan tâm của độc giả đối với tiếng Việt trên báo chí và những góp ý của quý vị rất đáng trân trọng.

Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng tiêu đề “Khát vọng cứu khổ phò nguy” không sai.

Tiêu đề này hoàn toàn ổn, tuy có một cách nói khác thích hợp hơn với nội dung bài viết là “cứu khốn phò nguy” (“nguy” đi với “khốn”). Có một số độc giả thấy “lăn tăn” là do vốn Hán học của họ. Theo những độc giả này thì phải viết là “cứu khổn phò nguy”, vì trong tiếng Hán từ thứ hai trong cụm từ này là “khổn”, chứ không phải là “khổ”. Nhưng ngôn ngữ luôn vận động và phát triển. Người viết báo dùng “cứu khổ phò nguy” thì đông đảo người Việt ngày nay cảm thấy dễ hiểu, vì họ quen với những cách nói như “cứu khổ cứu nạn” và họ cũng hiểu đúng cái ý mà tác giả muốn nói. Còn nếu viết “cứu khổn cứu nạn” thì hầu hết độc giả sẽ không hiểu. Muốn hiểu, phải tra từ điển Hán Việt hay hỏi han những người hiểu biết.

Báo chí nên viết theo ngôn ngữ của ai? Dĩ nhiên phải theo người bản ngữ, tức tuyệt đại đa số những người không hiểu được từ “khổn” mà chỉ biết đến từ “khổ”, chứ không thể theo cảm nhận của một số ít người có vốn Hán học. Nhất là khi việc theo số đông lại có lợi cho giao tiếp, không làm tổn hại gì đến sự trong sáng của tiếng Việt.

Nếu theo cách suy luận của những độc giả đó thì hiện nay có rất nhiều cách nói, cách hiểu có thể bị coi là sai, như “hỗ trợ”, “chung cư”, “lang bạt kỳ hồ”..., vì người Việt hiện nay không còn dùng những từ ngữ này theo đúng hình thức ngữ âm và ngữ nghĩa như nó vốn có.

                         

             
Trên đây là bài viết tôi copy từ báo Tuổi Trẻ Online nói về câu thành ngữ "Cứu khổn phò nguy" viết trên báo , đã được biến đổi theo  một dạng khác, và ý kiến của bạn đọc, cũng như ý kiến của một vcó học hàm, học vị trả lời, các bạn đọc cũng đã rõ. Tôi không có ý bình luận gì về bài viết trên. Nhân đây bằng thiển ý của mình, tôi muốn nói sơ qua về câu thành ngữ "Cứu khổn phò nguy".

Thật sự câu "Cứu khổn phò nguy" bây giờ chúng ta không còn thấy xuất hiện trên các mặt báo, nhất là báo giấy nữa, nhưng nếu lên mạng vào Google gõ từ "Cúu khổn phò nguy", chúng ta sẽ thấy xuất hiện khá nhiều trang mạng còn dùng câu thành ngữ này, và những trang mạng này thường là những trang viết về truyện kiếm hiệp khi xưa. Tôi thử gitất cả những quyển tđiển có trong tay, mấy quyển tđiển tiếng Việt, tđiển thành ngữ tục ngữ tiếng Việt, tđiển tầm nguyên, tđiển từ cổ, kể cả tđiển điển cố Trung Hoa..., lạ thay chẳng thấy quyển sách nào nói về câu "Cứu khổn phò nguy" c. Tôi chỉ thấy nói tới câu "Cứu khốn phò nguy", chữ "khốn" dấu sắc, chứ không phải chữ "khổn" dấu hỏi, và nghĩa của câu như chúng ta đã biết, đại khái là "cứu giúp ai đó qua lúc khốn cùng, hiểm nguy". Riêng chữ "khổn" tôi chẳng thấy một quyển từ điển tiếng Việt nào giải nghĩa.

Nhưng trong quyển từ điển Hán - Việt của Thiều Chửu có giải nghĩa khá rõ về chữ "khổn", tôi chỉ lấy nghĩa có liên quan đến câu "Cứu khổn phò nguy". "Khổn" ở đây có nghĩa là "cổng thành ngoài", Sử ký có câu "Khổn dĩ nội quả nhân chế chi, khổn dĩ ngoại tướng quân chế chi", từ cổng thành ngoài trở vào thì quả nhân coi xét, từ cổng thành ngoài trở ra thì tướng quân coi xét. Chữ "khổn" ở đây là cổng thành ngoài, không liên quan gì đến từ "khốn hay khổ", và câu này từ nguyên của nó đúng là "Cứu khổn phò nguy". Chữ "khổn" ở đây liên quan mật thiết đến một chữ khác trong câu đứng ngay sau nó, đó là chữ "phò". Như chúng ta đã biết, "phò" nghĩa là theo giúp vua, và thành ngữ "Cứu khổn phò nguy", nghĩa hẹp ban đầu là cứu cổng thành ngoài để giúp vua qua cơn nguy ngập, chẳng hạn trường hợp nhà vua đang bị vây hãm trong thành. Còn nghĩa rộng như chúng ta cũng đã rõ, để chỉ việc cứu giúp một ai đó qua cơn nguy khốn...

Trong sách Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn (bản do Nguyễn Khắc Thuần dịch, nhà xuất bản Giáo Dục ấn hành năm 2007), có chép liên quan đến từ "khổn". Năm Thuận Thiên thứ 3, Hoàng đế nghĩ Hóa Châu là đất cũ, lại giáp với Chiêm Thành, cần phải có vị trọng thần chế khổn làm Trấn Thủ, vì vậy mới sai Hành Quân Tổng Quản đến trấn giữ đất ấy. ghi chú của Nguyễn Khắc Thuần về chữ "chế khổn" trong câu này là: khống chế được, thực hiện tốt những công việc ở ngoài cửa "khổn", tức là ở ngoài cửa của hoàng cung.

Tôi nghĩ tại sao người xưa không dùng chữ "Cứu khốn" hay "Cứu khổ phò nguy" cho dễ hiểu, mà đi dùng chữ "khổn". Nếu có ai đó giúp vua qua cơn nguy cấp mà lại đi tâu với vua: Thần đã "cứu khốn (khổ) phò nguy", thì chắc sẽ bị bắt tội. Bởi vì không ai nói "giúp vua qua cơn nguy cấp khốn khổ cả", chữ "khốn, khổ" là để dành cho "thảo dân", như chúng ta cũng đã biết, vua ăn cơm gọi là ngự thiện, vua khó ở phải gọi là "se", vua mất phải gọi là "băng", chứ chẳng ai dám gọi là vua ốm hay vua chết như gọi nơi người bình thường...

Đối với bài báo trên, người trả lời viết có một cách thích hợp hơn là viết "Cứu khốn phò nguy", thực ra nói "cứu khốn phò nguy" cũng y hệt như nói "cứu khổ phò nguy" vậy...

Từ ngữ luôn có sức sống của nó, từ "cứu khổn phò nguy", trở thành "cứu khốn phò nguy", hay "cứu khổ phò nguy", những cách dùng này đúng là có thể không hề sai về mặt ngữ văn như vị PGS-TS viết bên trên, và cũng dễ hiểu hơn với đại chúng, nhưng nếu có thể hiểu thêm được từ nguyên của từ ngữ cũng là điều thú vị...




--> Read more..

Thứ Bảy, 13 tháng 10, 2012

Hà thành - Sài thành.

                                                          thành xưa.


                              Chở hoa loa kèn đi bán trên đường phố Hà thành.

                                                                                                                    Mùa thu Hà thành.
                                                                                              
Trong một entry trước, có bạn comment nhắc đến Hà thành và Sài thành, là cách gọi khác của Hà Nội và Sài Gòn, mà thỉnh thoảng chúng ta thường gặp trong sách vở, hay trên báo chí, như câu thơ nói về phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục: Trường Nghĩa Thục đứng đầu dạy dỗ/ Khắp ba mươi sáu phố Hà thành/ Gái trai nô nức học hành/ Giáo sư tám lớp học sinh non ngàn (Nam thiên phong vận ca - khuyết danh), còn về từ Sài thành trên báo chí người ta thường hay dùng, chẳng hạn "ẩm thực Sài thành năm xưa"...

Hà thành hay Sài thành là cách gọi rút gọn của tên gọi thành phHà Nội - thành phSài Gòn, đã có từ xưa, và ngày trước chđể gọi như thế về Hà Nội và Sài Gòn. Như chúng ta cũng đã biết, chữ "thành" thường được gọi và hiểu theo các nghĩa, là "thành thật", "chân thành", "thành bại", hay "thành lũy", tức là một khu đất có tường lũy bao quanh, có chu vi, là nơi vua chúa ở như thành Thăng Long dưới các triều Lý, Trần, Lê..., hoặc là nơi quan lại, quân lính để phòng thủ của một vùng đất, chẳng hạn thành Gia Định đất Sài Gòn xưa... nhưng chữ "thành" trong Hà thành, Sài thành, chắc chắn không phải để chỉ sự thành thật, chân thành, cũng không phải để chỉ "thành lũy", mà là chđể ch"thành thị", một vùng đất, một không gian rộng lớn không bị giới hạn bởi bốn bức tường thành, chỉ có vua chúa, quan lại hay binh lính, mà còn có các thành phần khác trong xã hội, người dân, thợ thủ công các ngành nghề, giới buôn bán kinh doanh lớn nhỏ, các tầng lớp trí thức, nghĩa là nơi phồn hoa đô hội...


                                             Đường Tự Do xưa ở Sài thành.


                                                     Nữ sinh Sài thành.


                                                          Phố chợ Sài thành.


Nếu Sài thành, thành phSài Gòn, chỉ mới có hơn 300 năm phát triển, thì Hà thành, thành phố Hà Nội đã có hơn 1000 năm lịch sử, với kinh thành Thăng Long xưa kia, và có ltên gọi thành đã có trước hết. Hà Nội là tên gọi được đặt từ năm 1831, dưới triều vua Minh Mạng. Trước đó, khi còn là kinh đô Thăng Long, thì Hà thành đã được gọi là Long thành, như chúng ta đã thấy trong một tác phẩm của đại văn hào Nguyễn Du, "Long thành cầm giả ca", bài ca về người gảy đàn ở thành Thăng Long.

Còn ở miền Nam, năm 1790 Nguyễn Ánh đã cho xây thành Quy, còn gọi là thành Bát Quái trên đất Sài Gòn xưa, sau khi xây xong gọi là Gia Định kinh thay cho Phú Xuân kinh đã thuộc về Quang Trung Nguyễn Huệ. Năm 1802 sau khi Nguyễn Ánh lấy được Phú Xuân và lên ngôi hoàng đế lấy hiệu là Gia Long, đã đổi Gia Định kinh là Gia Định thành, và Gia Định thành là để chỉ cả một vùng đất rộng lớn mà sau này là Nam kỳ lục tỉnh. Năm 1864, người Pháp cho thành lập hai thành phố riêng biệt là thành phố Sài Gòn (vùng Bến Nghé), và thành phố Chợ Lớn. Năm 1931, người Pháp nhập hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn làm một lấy tên là Khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn (Région De Saigon Cholon). Đến năm 1953 chính quyển Bảo Đại gọi thành phố Sài Gòn là Đô thành, và sau đó Sài Gòn là thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa, cho đến tháng 4 năm 1975...

Ở miền Nam, trước năm 1975 và những năm đầu tiếp theo thì từ "thành phố" là để chỉ riêng Sài Gòn, ở các tỉnh người dân vẫn dùng từ "người thành phố" để chỉ người dân Sài Gòn, bởi những năm tháng ấy chỉ có Sài Gòn được gọi là thành phố, các nơi khác gọi là tỉnh, thị xã, cho nên cũng như thành phố Hà Nội được gọi tắt là Hà thành, người dân được gọi là "người Hà thành, dân Hà thành" thành phố Sài Gòn cũng được gọi là Sài thành, và người dân được gọi là "người Sài thành, dân Sài thành".

Nhưng có một nơi cũng từng là kinh đô một thời trên một trăm năm là Phú Xuân - Huế, nhưng không ai gọi là "Phú thành" hay "Huế thành", có lẽ Phú Xuân - Huế là một nơi kinh thành cổ kính hơn là một thành phố tấp nập, phồn hoa đô hội... 

Bây giờ thì tên gọi thành phố đã được đặt cho rất nhiều nơi, chẳng hạn thành phố Đà Nẵng, thành phố Phan Rang, thành phố Cần Thơ,  thành phố Cà Mau, thành phố Tuyên Quang..., và trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng đã thấy gọi Đà thành để chỉ thành phố Đà Nẵng... Như vậy có lẽ chúng ta sẽ thấy xuất hiện nhiều cái "thành" khác, chẳng hạn Phan thành để chỉ thành phố Phan Rang, Cần thành để chỉ thành phố Cần Thơ, Tuyên thành để chỉ thành phố Tuyên Quang, hay... Cà thành để chỉ thành phố Cà Mau... .



                                                     
--> Read more..

Thứ Tư, 10 tháng 10, 2012

Bối diệp.

                                                  Lá buôn (lá buông) tươi.


                                                         Phơi lá buôn.


                                                 Làm kinh sách từ lá buôn.


                                                 Kinh sách làm bằng lá buôn.


Bối diệp là từ Hán - Việt có nghĩa là "lá bối", một loại lá mà ngày xưa người ta dùng để viết kinh sách thay cho giấy, xưa nữa thì con người dùng thân tre để khắc chữ trên đó, cho nên gọi là "thanh sử", sử xanh, như ta đã thấy viết trong truyện Kiều của Nguyễn Du "Cảo thơm lần giở trước đèn/ Phong tình cổ lục còn truyển sử xanh". 

Nói đến "lá bối", tôi chợt nhớ đến nhà xuất bản Lá Bối khi xưa tại Sài Gòn, một nhà xuất bản chuyên in những quyển sách hay của những người viết hay dịch giả có uy tín. Ngày xưa trước năm 1975 tại Sài Gòn có những nhà xuất bản như Lá Bối của nhà sư Từ Mẫn, Nhất Hạnh, An Tiêm của nhà sư Thanh Tuệ, hoặc Cảo Thơm, Kinh Thi... đều là những nhà xuất bản chuyên xuất bản những quyển sách có chất lượng, được đông đảo giới trí thức yêu thích tìm đọc.

Trong sách vở tôi thấy nói ngày xưa bên Ấn Độ kinh sách nhà Phật được viết trên lá bối, ở Việt Nam và nhiều nơi khác tại Đông Nam Á lá bối cũng được chép kinh sách, và ở Việt Nam được gọi bằng cái tên khác là lá buôn, lá buông. Trước năm 1975 thì lá buôn có rất nhiều ở Rừng lá, là một khu vực rộng lớn kéo dài từ Long Khánh đến tận Bình Tuy, bạn nào mà thời trước năm 75 có dịp đi xe đò (bây giờ thì gọi là xe khách), từ Sài Gòn đi các tỉnh miền Trung qua khu vực Rừng lá này thì biết, chỗ nào có nhà dân đều thấy phơi dọc theo quốc lộ loại lá buôn, lá dùng để chằm nón, giỏ xách..., xưa nữa thì để viết kinh sách, kết thành buồm dùng cho thuyền bè, làm áo tơi, giỏ đệm... Lá buôn có người gọi là lá kè, lá cọ... thuộc họ Cau.

Ngày xưa thời chiến tranh đi qua khu vực Rừng lá này rất sợ, vì thuở đó rừng còn rất um tùm, ra tận tới quốc lộ, thời ấy thỉnh thoảng tôi có dịp phải ngồi xe đò, hay xe quân sự đi ngang Rừng lá là... nín thở, qua khỏi rồi mới thở phào...

Bây giờ tôi muốn nói tới từ lá buôn, hoặc lá buông mà người dân hay gọi, theo sách "Sổ tay địa danh thành phố Hồ chí Minh" của nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ xuất bản năm 2012 tại Sài Gòn, thì từ "Lá Buôn" để gọi tên một con rạch nhỏ ở xã Long Hòa huyện Cần Giờ dài khoảng độ 2000m, đổ vào sông Hà Thanh. Lá buôn là loại cây rừng rất to lá hình rẻ quạt, dùng làm buồm, nón, quạt... tên chữ Hán là Bối diệp. Trước đây tôi cũng đã đọc được ở đâu đó giải thích về tên gọi lá buôn, lá buôn như chúng ta đã thấy được dùng buôn bán để làm buồm cho ghe thuyền (bây giờ ghe thuyền đã có máy đuôi tôm chạy bằng xăng dầu, không còn dùng buồm nữa), làm quạt, làm nón... cho nên mới được gọi là lá buôn (buôn bán), người miền Nam gọi thành lá buông, thêm chữ g phía sau. Về ngữ âm thì người dân Nam bộ hay lẫn lộn như thế, chẳng hạn cầu Long Kiểng được gọi thành Long Kiển (bỏ mất chữ g), gốc của từ là Long Cảnh, chữ Cảnh vì kỵ húy hoàng tử Cảnh mà đổi thành Kiểng, rồi lại đọc trại thành Kiển.

Nói về nói sai ngữ âm, hoặc viết sai chính tả thì người Nam bộ có cái rất... dễ thương là hay mắc phải, và ở mọi người, mọi tầng lớp chứ không riêng ai. Chẳng hạn chữ "giồng", chỉ vùng đất nổi cao thường ở ven sông, âm gốc là "vồng", hoặc ở ranh giới quận 7 và quận 8, từ rạch Bến Nghé đến rạch Bà Lào, có rạch Ông Lớn và rạch Ông Bé, thực ra tên của 2 con rạch này là Ong Lớn và Ong Bé, Ong ở đây là con ong, khu vực này ngày xưa là rừng có nhiều ong, dân vào lấy mật ong đem ra bán ở cây cầu gần đó, nên cầu có tên là cầu Mật. Ở huyện Cần Giờ có lẽ các bạn còn nhớ tên cây cầu Dần Xây, nguyên là một bến phà, sau được xây cầu, thời gian xây cứ ạch đụi kéo dài mãi, người dân đùa nói đúng là cầu "dần xây", tức là xây dần dần, từ từ, nhưng thực ra tên gốc của cầu là Giằng Xay, đây là tên của một loại cây gỗ tạp có nhiều ở vùng này, được dùng làm vị thuốc... 

Một vài tên gọi nữa chẳng hạn địa danh Cát Lái (bến phà) ở quận 2, theo sách địa danh thành phố HCM đã dẫn thì nguyên gốc là "Các Lái", nơi trước đây các (những) lái buôn đi buôn bán hay tập trung qua phà, hoặc con rạch ở Bình Chánh có tên gọi là rạch Cái Tắc, thì tên gọi gốc là rạch Cái Tắt, "tắt" có nghĩa là "đường tắt"...

Sách đã dẫn:

- Sổ tay Địa danh Thành phố Hồ Chí Minh, PGS. TS Lê Trung Hoa, Nguyễn Đình Tư, NXB Văn hóa - Văn nghệ, xuất bản năm 2012.
- Ảnh Internet.



--> Read more..

Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2012

Lan man ngày tháng...

                                                              Ảnh Internet.


Có anh bạn trẻ trong phòng làm việc nơi cơ quan tôi đang làm, thỉnh thoảng thắc mắc điều gì về chữ nghĩa hay lịch sử hay hỏi tôi, chẳng hạn gần đây khi đang thảo một văn bản hay làm báo cáo gì đó, anh bạn trẻ hỏi, chữ "chân" trong "chân thành" viết "ch" hay "tr"?. Tôi nói "ch", bởi vì "chân" này là "chân thật", "chân tình", còn "trân" viết "tr" là "quí báu", như "trân trọng" (quý trọng)... Lần khác anh chàng lại hỏi, chữ "qui củ" thì "củ" viết dấu ngã hay dấu hỏi? À, bởi vì anh chàng này người Nam bộ, cho nên hay lầm lẫn về chính tả giữa các từ ngữ, người ta hay nói "Đi hỏi già về nhà hỏi trẻ", thế là đúng rồi, tôi đích thị là... cụ già rồi. 

Tôi trả lời anh bạn trẻ "củ" viết dấu hỏi, nhân tiện tôi nói cho anh chàng biết về nghĩa gốc của chữ "qui củ". Cũng giống như những từ "can qua", "mâu thuẫn"..., nhưng từ "qui củ" không dùng để gọi tên binh khí xưa, mà là từ để chỉ dụng cụ của người thợ, đến nay vẫn còn được dùng. "Qui" có nghĩa là dụng cụ để vẽ hình tròn, còn "củ" là dụng cụ để vẽ vuông góc, mà trong Từ điển Hán - Việt của Đào Duy Anh đã giải thích rất rõ, cụ Đào Duy Anh còn chú thích thêm cả tiếng Pháp (compas et équerre), làm việc có qui củ có nghĩa là làm việc có kỷ luật, có phương pháp... 

Hôm qua nhân đọc entry "Bất hiếu hữu tam vô hậu vi đại" bên nhà ông bạn Bulukhin, giở lại Tứ thư (Mạnh Tử) Chương Ly Lâu thấy có viết: Mạnh Tử viết: Qui củ, phương viên chí chí giã (dã). Bản dịch của Đoàn Trung Còn: Cái qui (thước nhíp) và cái củ (thước nách) là khí cụ để cho tay thợ làm thành đồ tròn và đồ vuông. Như vậy cũng như những từ ngữ can qua, mâu thuẫn..., qui củ là một từ ngữ Hán Việt xưa, như rất nhiều từ ngữ vẫn còn được dùng trong tiếng Việt bây giờ, có điều với nhiều bạn trẻ bây giờ, viết đúng chính tả cũng đã là điều không dễ dàng, chưa nói đến việc hiểu rõ từ nguyên của chữ. Điều này cũng không thể trách các bạn trẻ được, bởi sách báo, kể cả từ điển mới in bây giờ, tôi có một số trong tay, mà mỗi lần tìm kiếm ý nghĩa của chữ mình chưa rõ lắm hoặc muốn tìm, thì khó lòng kiếm thấy, hoặc chỉ giải nghĩa sơ sài, thậm chí không chính xác... Những quyển từ điển tiếng Việt như của Hội Khai Trí Tiến Đức, do Phạm Quỳnh và một số học giả thời đầu thế kỷ 20 chủ biên, in tại Hà Nội năm 1931, ở Saigon in lại năm 1968, hoặc quyển từ điển Hán - Việt của Đào Duy Anh bản tôi có in tại Saigon năm 1956, tôi lại thường tìm được ý nghĩa của rất nhiều từ ngữ muốn tìm, chẳng hạn như giải thích về từ Qui củ bên trên, Đào Duy Anh còn ghi chú thêm cả tiếng Pháp trong từ điển Hán Việt...

Mấy hôm trước trên mạng cũng lùm xùm vụ có vị Tiến sĩ nói Bình Ngô đại cáo không phải của Nguyễn Trãi viết... Cộng đồng mạng cũng phản ứng và bài báo bị gỡ bỏ ngay sau đó... Hôm nay (7/10/2012), báo Người Lao Động lại đăng tin ở trang nhất về thực trạng bằng giả tràn lan trong giới công chức ở nước ta, học giả bằng giả là nguy hiểm, nhưng học giả bằng thật còn nguy hiểm hơn gấp bội...


--> Read more..

Thứ Tư, 3 tháng 10, 2012

Danh chấn thiên hạ.

                                                            Ảnh Internet.


Đọc trên báo ngày hôm nay tôi thấy có một tin ngắn đại ý nói, theo Công ty nghiên cứu thị trường toàn cầu (Euromonitor International) cho biết, năm 2011 Việt Nam tiêu thụ gần 2,6 tỷ lít bia, xếp hạng nhất Đông Nam Á, điều này chứng tỏ người mình cũng có cái đứng đầu, hơn thiên hạ, chứ không đến nỗi thua kém hoàn toàn... . Mấy hôm trước trên báo chí cũng đăng tin ở Bình Dương cấm công chức không mang vòng hoa đến phúng đám tang, và ở Hà Nội cũng có dự thảo cấm công chức không được tổ chức cưới hỏi đặt trên 50 bàn (ở Hà Nội tương đương 300 khách mời), và cũng không được tổ chức ở những nhà hàng khách sạn 5 sao sang trọng, có lẽ bởi đã có những đám cưới con nhà quan chức tổ chức quá hoành tráng, với "giàn xe khủng", nhà hàng siêu sang tốn tiền bạc tỉ...

Cũng có người sau khi đọc tin nói, đấy là chuyện riêng của người ta mắc gì mà cấm, người khác nói, cấm là phải, bởi vì chỉ có quan chức mới đình đám hoành tráng, lãng phí và khoe mẽ như thế, chứ công nhân viên lãnh lương ba cọc ba đồng, ăn uống lo cho con cái học hành còn không đủ lấy chi đâu mà lãng phí... Ở đây tôi không có ý bàn về những chuyện này, vì có lẽ đây là những chuyện khôn cùng, chín người mười ý, chẳng biết đâu mà lường... Tôi chỉ muốn nói về cái sự cấm này thì xưa xửa xừa xưa cũng đã có rồi. Sách Phong Tục Sử chép dưới triều Nguyễn có ghi rõ: Vào đời vua Lê Thần Tông thứ 14 (niên hiệu Vĩnh Thọ 1660) đã có lệnh cấm rượu, lệnh cấm ghi "Tục của dân lúc này thường ngày hay mượn cổ lệ làng tụ họp nhau chè chén kéo dài vô độ. Thế là định lệ cấm. Mọi người tế bái, ăn mừng, chay điếu, dân xã thờ thần cầu phúc dùng rượu có hạn định. Những kẻ cố ý uống rượu với nhau hay tụ hội uống rượu ở chợ thì giải quan để trị tội...". Không những thế sách cũng chép năm thứ 3 đời vua Thuần Tông (niên hiệu Long Đức 1735) cấm đồ dùng hoa mỹ, bởi tập tục trong dân gian ngày càng xa xỉ, bèn ra lệnh các đồ vật thường dùng của quan quân thứ dân, không được điêu khắc dáng chữ hoa mỹ... .

Như thế thì cũng đã rõ, dân ta có thói quen ăn nhậu, xa xỉ từ đời nào chứ chẳng phải bây giờ, và cái thói quen này có lẽ nó đã ăn vào máu, đã trở thành "gien" rồi, chẳng còn là hiện tượng nữa. Những người ngoại quốc mới đến Việt Nam, hoặc những người Việt xa xứ lâu ngày có dịp trở về xứ sở đều có chung một nhận xét, người Việt mình ăn nhậu ghê quá, bất cứ lúc nào, chỗ nào, góc đường góc phố bụi bặm, thậm chí cạnh hố ga, bãi rác cũng có thể hồn nhiên ngồi ăn uống, nhậu nhẹt, và cái sự nhậu mới ghê gớm, mấy ông bợm xứ mình có thói quen uống lấy được, nghĩa là ép nhau uống thật nhiều, vài người uống cả thùng bia hoặc hơn thế, rượu Tây giá bạc triệu (hoặc vài triệu) một chai mở ào ào, ai mà chưa quen đi ăn uống nhà hàng cứ giật mình thon thót vì những tiếng "dzô" khí thế, uống lấy... chết chứ không phải là để thưởng thức nữa... Và rồi thì "Hậu quả nhỡn tiền", đa số quí ông ham nhậu chưa già đã cao huyết áp, mỡ máu, tim, gan có vấn đề, "gút"... .

Người mình bị cho là dở trong nhiều vấn đề, nhưng dù sao trong cái sự ăn chơi  nhậu nhẹt, xa xỉ... cũng thuộc hàng cao thủ võ lâm, "danh chấn thiên hạ" chứ có chịu thua ai....



--> Read more..