PNH


Vãn giác văn chương chân tiểu kỹ... Tô Đông Pha.




Một góc nhìn...


Photobucket
Photobucket

Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2009

Luân hồi.

Photobucket



"Lang thang từ độ luân hồi

Vô minh nẻo trước xa xôi dặm về..."

Vũ Hoàng Chương.



Luân hồi, thường được hiểu theo thuật ngữ nhà Phật, nôm na giải nghĩa từng chữ thì Luân là cái bánh xe, Hồi là quay trở lại, Luân hồi, tiếng Phạn gọi là Samsàra được hiểu là sự chuyển tiếp của những kiếp sống. Trong Phật giáo được biểu thị bằng cái bánh xe (Cakka), trông tựa như cái bánh lái của tàu buồm ngày trước, và được gọi là Bánh xe luân hồi (Samsàra Cakka).

Một sinh vật sau khi chết, thân xác sẽ tan rã, nhưng thần thức sẽ tiếp tục đi vào một đời sống mới trong sáu cõi, đó là: Trời - Người - Atula (theo giải thích trong kinh sách nhà Phật Atula là một thứ quỷ thần chuyên đi "quậy phá" các đấng Phạm Thiên) - Địa ngục - Ngạ quỷ - Súc sanh. Và tùy theo "nghiệp" mà sẽ vào một trong sáu cõi trên.

Đại khái là như vậy, ở nhà tôi có một mớ kinh sách, Cựu ước, Tân Ước bên Thiên Chúa Giáo, kinh Dược sư, Nhật tụng, Pháp hoa, Bát nhã... bên Phật giáo. Thỉnh thoảng rảnh quá không biết làm gì tôi lấy ra đọc, và càng đọc càng... mù mịt. Những kinh sách này nằm trong hệ thống triết học của tôn giáo. Tôi còn nhớ một câu chuyện thiền giữa 2 chú tiểu. Có 2 chú tiểu theo học một lớp triết học, sau một thời gian một chú đến lớp học rất hớn hở, còn chú kia thì rất rầu rĩ vì chẳng hiểu gì cả. Chú học rầu rĩ bèn hỏi chú hớn hở "này huynh có bí quyết gì không mà sao học thấy dễ dàng quá, đệ đây học mãi chẳng hiểu". Chú kia trả lời "ồ triết học có gì khó đâu, đó chỉ là một hệ thống những ngôn từ, chữ nghĩa rối rắm giải thích những điều rất đơn giản đó mà"...

Quả thật tôi đọc những kinh sách nhất là kinh sách Phật giáo chẳng hiểu được mấy chữ, nào là ngũ uẩn, lục thức, giai không, luân hồi, nhân quả, duyên, nhân duyên, nghiệp, nghiệp thức, nghiệp báo, ngã, sát na, súc sanh, ngạ quỷ... ôi thôi lung tung, điên cái đầu...

Mà không phải chỉ Phật giáo mới có luân hồi, bên Thiên Chúa giáo cũng có. Kinh Tin kính đã nói rõ "tôi tin xác loài người ngày sau sống lại...", và tùy theo lúc còn sống con người đó làm điều lành hay điều dữ mà khi chết đến ngày tận thế sẽ bị Chúa trời phán xét, mà cho vào địa ngục hay thiên đường...

Tôn giáo là niềm tin, dĩ nhiên ai theo tôn giáo nào sẽ tin theo giáo lý của tôn giáo đó, không có khái niệm đúng hay sai, có lý hay vô lý. Tôn giáo nào cũng có cái hay của nó, nhưng riêng tôi trong chuyện luân hồi thì tôi nghĩ thế này, luân hồi chính là sự chuyển tiếp (vòng đời) của muôn loài (động vật và thực vật), chẳng hạn hình ảnh tôi chụp bên trên, cây sẽ ra hoa, hoa tàn sẽ kết thành quả, rồi từ quả cho hạt, hạt rơi xuống đất, gặp chỗ đất tốt (duyên) thích hợp sẽ lại mọc thành cây, tiếp tục một vòng luân hồi...

--> Read more..

Thứ Tư, 28 tháng 10, 2009

Lá.

Photobucket

Cỏ dại mọc trên đá.

 

Photobucket

Những chiếc lá sen trồng trong chậu xanh mướt.

 

 Photobucket

Những chiếc lá sâu ăn.

 

 Photobucket

Lá non và lá úa.




Không phải là lá Diêu bông không có thật của thơ Hoàng Cầm, tôi chỉ muốn nói đến những chiếc lá xanh, lá úa, những cọng cỏ dại hàng ngày chúng ta vẫn nhìn thấy hoặc bước qua mà không để ý, không hiểu sao tôi thích nhìn ngắm hoa cỏ, lá xanh lá úa, chuồn chuồn, ong, bướm, chim chóc, cả tắc kè rắn mối... hơn là những tòa nhà cao tầng sừng sững, hoặc những chiếc xe hơi đời mới bóng lộn... Tôi không chê bai nhà cao tầng hay xe hơi đời mới, đơn giản là tôi thích ngắm nhìn chuồn chuồn cỏ lá hơn chúng.

Một gã dở hơi trong thành phố...

--> Read more..

Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2009

Tháng mười.

Photobucket

Mật ngọt.

Photobucket

Soi bóng.

 Photobucket

Sen.


 Photobucket

Trốn nắng.

 

Em như tăm bóng nhỏ

Tan trong mưa tháng mười

Lòng ta con sóng vỗ

Dưới chân cầu năm xưa.


Câu thơ đã đọc từ lâu lắm nên chẳng thể nhớ được của ai, cùng với vài tấm ảnh cũ mới post lên để hết một tháng mười.

--> Read more..

Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2009

Trà kinh.

Photobucket




Chắc ai trong chúng ta cũng biết đến trà, và uống trà, một loại thức uống đã có lịch sử cả ngàn năm nay ở khu vực Châu Á (Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên), và hiện cả thế giới đều uống trà... Uống trà ở Nhật Bản đã được nâng lên hàng Đạo, Trà đạo, người Nhật siêng năng, cần mẫn và cầu tiến, nhưng rất tinh tế trong chuyện thưởng thức, thưởng ngoạn... Họ đã nâng những gì tưởng chừng như bình thường lên hàng Đạo, Võ đạo, kiếm đạo, Hoa đạo, Trà đạo... Người Trung Hoa cũng thế, Lục Vũ thời xưa được xưng tụng là "Trà thần" cùng với tác phẩm "Trà kinh" được truyền tụng xưa nay. Một thi nhân và cũng là một trà nhân danh tiếng khác của Trung Hoa là Lô Đồng đời nhà Đường cũng được xưng tụng là "Trà thần" với bài thơ Trà ca của mình.

Cây trà tương truyền là do ngày xưa sư tổ Đạt Ma tham thiền buồn ngủ, bèn lấy dao cắt phăng hai mí mắt của mình vứt xuống đất, sau nơi ấy mọc thành cây trà, sư lấy lá nấu nước uống cảm thấy tỉnh táo, không còn cảm thấy buồn ngủ khi thiền định...

Các cụ ngày xưa của ta uống trà rất cầu kỳ, tôi còn nhớ hình như trong tác phẩm Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân có nói về uống trà của các cụ, trà phải ngon đã đành, rồi nước pha trà cũng phải chọn lựa kỹ lưỡng, phải lấy từ giếng của ngôi chùa trong làng, nước giếng trong vắt, hay sáng sớm tinh mơ con cháu đã phải ra ao sen lấy những giọt sương mai đọng trên lá sen về để các cụ nấu nước pha trà... Rồi tiếp đến những dụng cụ pha trà, ấm, chén tống chén quân... đâu phải bất cứ loại ấm chén nào cũng pha trà được, có những bộ ấm chén xưa lưu truyền từ đời này sang đời nọ, được cất giữ còn hơn cả một gia tài. Cũng có câu chuyện một gã ăn mày đi xin ghé nhà nọ thấy mấy cụ đang ngồi thưởng trà, gã ăn mày xin một chén trà chứ không xin cơm gạo, uống xong chén trà gã ăn mày gật gù khen ngon, nhưng nói thêm tiếc là có mùi trấu, khi gã ăn mày đi khỏi có cụ tò mò mở ấm trà ra xem, thì thấy lẫn trong bã trà có vài mảnh vỏ trấu thật...

Bây giờ có cả ngàn loại trà, nhưng có thể chia làm ba loại trà chính là Trà Xanh (Lục Trà), Hồng Trà (nói theo Âu Mỹ là Black Tea), và loại thứ ba nửa giống Lục Trà nửa giống Hồng Trà, thường được gọi là trà Ô Long, vì Ô Long là loại trà phổ thông nhất trong loại trà này. Nói đến Lục Trà, mà điển hình là loại trà Long Tĩnh nổi tiếng xưa nay của quê hương  trà Triết Giang Trung Hoa, khi pha sẽ cho nước màu xanh nhạt. Loại Hồng Trà, như "Lục An Hồng Trà" (hay trà Lipton ở Anh, Mỹ), khi pha cho nước màu đỏ nâu đậm. Còn loại trà Ô Long như trà "Thiết Quan Âm" khi pha sẽ cho nước màu đỏ nâu nhạt... Thật ra các loại trà khác nhau là ở cách chế tạo (sấy, ủ...), đa số người Á Đông (Việt, Hoa, Nhật, Hàn) quen uống Trà Xanh và Ô Long, trong khi người Âu Mỹ lại quen uống Hồng Trà (gọi theo họ là Trà đen), và loại trà người Á Đông ưa thích là Trà Xanh lại được chế biến đơn giản nhất.

Về uống trà thì xưa bên Trung Hoa người ta hay cho thêm những thứ khác vào trà, chẳng hạn như muối, vỏ cam, quít, gừng... cách uống này với những cao nhân về trà họ không thích, bởi làm mất đi cái hương vị chính của trà. Loại Trà Xanh là loại được ưa thích xưa nay ở Á Đông, được chế biến rất đơn giản, không qua giai đoạn ải, ủ lên men, bởi sau khi ải, ủ lên men hương vị của trà đã mất hay đổi khác. Người ta cũng không uống trà ướp hoa như sau này ở ta hay ướp hoa nhài, sen, vì cũng làm mất đi mùi hương chính của trà.  Sau khi hái vào buổi sáng sớm mờ sương (không bao giờ hái trà khi nắng đã lên), chỉ nội trong buổi chiều là đã được sấy xong có thể dùng được.

Xưa có những loại trà đã đi vào truyền thuyết như trảm mã trà, chọn ngựa giống khỏe mạnh cho nhịn đói vài ngày, sáng sớm dắt vào vườn trà cho ngựa ăn những đọt trà non, sau đó chặt đầu, mổ bụng ngựa lấy trà ra, trà đã được tẩm với dịch vị trong dạ dày ngựa đem sao sẽ cho một loại trà đặc biệt. Hầu trà là loại trà hoang mọc tuốt trên núi cao con người không lên đến được phải huấn luyện những con khỉ để leo lên hái, chắc tựa như bên Indo, Thái Lan người ta dạy khi leo hái trái dừa... Rồi trùng điệp trà cũng là loại trà hoang mọc trong rừng thẳm, núi cao, có loại sâu sống trên cây trà này ăn lá, người ta bắt những con sâu này mang về mổ bụng lấy dịch ủ với lá trà tạo thành loại trà vô giá... Đấy là những loại trà truyền thuyết, chẳng biết có thật hay không?

Sau khi có được trà ngon phải nói đến trà cụ, là dụng cụ pha trà, xưa nay người ta chỉ dùng đồ gốm (chỉ chung đồ dùng pha trà bắng đất nung, đồ sành và đồ sứ), chẳng thấy người sành uống trà pha trà trong ấm, ly cốc kim loại, còn loại bình, ly, chén bằng ngọc lại được dùng để uống rượu. Người sành uống trà cũng không bao giờ dùng loại tách có quai như loại ta uống cà phê bây giờ, có lẽ ngoài việc thưởng thức trà, người uống trà cũng muốn được cảm nhận cái hơi nóng ấm áp của chén trà trong buổi sớm mai lạnh giá chăng? Ngày xưa bên Trung Hoa có những vùng chuyên sản xuất đồ gốm danh tiếng để uống trà, chẳng hạn câu "chén sứ Cảnh Đức, ấm đất Nghi Hưng", là hai nơi sản xuất chén, ấm uống trà nổi tiếng...

Sau trà, trà cụ, thì nước pha trà cũng là một phần quan trọng của uống trà, nước pha trà phải là nước tinh khiết không pha hay có rất ít tạp chất. Xưa bên Trung Hoa còn liệt kê hẳn hai mươi nguồn nước pha trà đệ nhất thiên hạ, mà thứ nhất là nước ở động Thủy Liêm, ở Khang Vương Cốc trên núi Lô Sơn. Thứ nhì là nước suối Thạch Tuyền, chùa Huệ Sơn ở huyện Vô Tích. Thứ ba là Thạch Tuyền Lan Khê ở Kỳ Châu. Thứ tư là Độc Tình Lãnh, trên núi Phủ Tử Sơn ở Hạp Châu. Thứ năm là Thạch Tuyền ở Hổ Khâu Tự, Tô Châu. Thứ sáu nước đầm Phương Kiền, Quải Hiền Tự, Lô Sơn. Thứ bảy là Nam Linh, thuộc Dương Tử Giang. Thứ tám là nước suối Tây Sơn, Hồng Châu. Thứ chín là Hoài Thủy, huyện Bách Nham, Đường Châu. Thứ mười là nước trên đỉnh Long Trì Sơn, Đường Châu. Mười một nước chùa Quan Âm, huyện Đan Dương. Mười hai nước chùa Đại Minh, Dương Châu. Mười ba nước thượng nguồn Hán Giang. Mười bốn nước Hương Khê trong Ngọc Hư Động, Quý Châu. Mười lăm nước Tây lạc, Vũ Quan, Thương Châu. Mười sáu nước Ngô Tùng Giang. Mười bảy nước ở thác cao ngàn trượng Tây Nam Lãnh, Thiên Đài Sơn. Mười tám nước suối Viên Tuyền, Liễu Châu. Mười chín Hán Thủy, huyện Nghiêm Lăng, Đồng Lô. Hai mươi là tuyết thủy, nước tan chảy từ băng tuyết. Ngày nay không biết hai mươi nguồn nước này còn được mấy nguồn, hay đã bị ô nhiễm.

Có trà ngon, trà cụ ưng ý, nguồn nước tinh khiết, cách pha trà cũng rất quan trọng, người xưa thường chỉ tự pha trà cho mình, hay để mời bạn hữu, không như rượu là có người hầu, nước phải sôi ở độ nào, nước pha trà không được sôi bùng, nghĩa là không đến 100 độ C, nghe đâu nước chỉ vừa sủi bọt lăn tăn, rồi trước khi pha chính thức phải "rửa trà"... vân vân, nghĩa là pha được một ấm trà cũng kỳ công lắm.

Cuối cùng là thưởng thức trà, xưa các cụ thường độc ẩm, hoặc đối ẩm, vừa thưởng thức hương vị tuyệt vời của ấm trà, vừa làm thơ hay bàn chuyện thơ phú, thật là thi vị, không như chúng ta bây giờ, vừa uống trà đá ướp hương hóa chất ly cối, vừa nói cười rổn rảng...


Tham khảo: Trà kinh, Vũ Thế Ngọc, nhà xuất bản Văn Nghệ 2006.

 
--> Read more..

Thứ Ba, 20 tháng 10, 2009

Am không.

Photobucket

Photobucket




Ta về giữa chốn am không

Rừng xưa níu lại bụi hồng đường xa.



Không biết sao có mấy bạn gọi tôi là hoa súng, cũng có bạn gọi là... người cõi trên, và cũng có bạn kêu chú tiểu. Hà hà mấy cái tên gọi này kể cũng hay ra phết, có vẻ ngộ nghĩnh, vui vui... Nghĩ lại thấy các bạn ai cũng có lý, tôi đã chụp khá nhiều hoa súng và hoa súng là loại hoa dân dã nhưng đẹp và dễ thương, người cõi trên thấy cũng có lý, bởi nhiều khi tôi cũng tự thấy mình có vẻ ngơ ngáo giữa cuộc đời, còn chú tiểu thấy cũng hay, ít ra tôi cũng có bộ đồ chú tiểu, và ở nhà cũng hay mặc...

Thỉnh thoảng tôi cũng hay vào chùa ngồi lơ ngơ ở một góc sân nghe đánh chuông gõ mõ, cũng có khi là để nghe chú dế mèn trú ở góc sân sân kể chuyện, hoặc chỉ để ngó trời ngó đất... Thỉnh thoảng tôi cũng bày đặt đọc vài cuốn sách Phật giáo, và thích một vài nhân vật, chẳng hạn Bồ Đề Đạt Ma, tương truyền là tổ thứ nhất của Thiền tông Trung Hoa, người chín năm ngồi diện bích, hay Huệ Năng, tổ thứ sáu, đắc đạo khi chỉ là chú tiểu không biết chữ thổi cơm giã gạo trong chùa... Thích những câu chuyện về thiền, những vị sư chẻ tượng Phật để sưởi ấm, hay những câu chuyện đầy nghịch lý của những thiền sư...

 

Một ngày lãng đãng qua, nghĩa là ta có thêm một ngày và cũng mất đi một ngày, cuộc sống là như thế, trong cái được đồng thời đã có cái mất, trong cái sinh đã có sẵn cái tử. Có mấy ai hồn nhiên như ngài Ca Diếp, khi Đức Phật thuyết pháp, không nói chỉ lặng lẽ đưa lên một cành hoa, chúng sinh ngơ ngác, duy chỉ có Ca Diếp mỉm cười... Hay như vấn nạn của Huệ Khả cả ngàn năm vẫn còn nguyên đó, làm sao con người có được cái tâm an, để thanh thản bước đi giữa chông chênh của cuộc đời...



 

"Khuya về nhẹ mở tâm kinh

Trang nào cũng thấy có hình bóng em

Mở bờ sinh tử ra xem

Em trong tiền kiếp là em bây giờ"

Câu thơ tôi không nhớ của ai đó, đã khép lại trong tôi một ngày, trong muôn trùng những ngày tháng....

 

Saigon, tháng 10/2009.

 

--> Read more..