PNH


Vãn giác văn chương chân tiểu kỹ... Tô Đông Pha.




Một góc nhìn...


Photobucket
Photobucket

Thứ Hai, 2 tháng 7, 2012

Chân ngôn.



Một câu được xem là Chân ngôn quan trọng và lâu đời của Phật giáo Tây Tạng, cũng là câu Chân ngôn cầu Quán Thế Âm bằng tiếng Phạn OM MANI PADME HUM quen thuộc đối với nhiều người, còn được gọi là Lục tự đại minh chú, Lục tự đà la ni, hay theo Hán tự là ÁN MA NI BÁT DI HỒNG.


OM là Pháp thân của tất cả các chư Phật, mọi thần chú đều bắt đầu bằng OM
MANI là Ngọc Như ý
PADME là bông sen
HUM là Tâm của tất cả chư Phật và chấm dứt mọi Chân ngôn.

OM đóng cửa Thiên đạo
MA đóng cửa Tu la đạo
NI đóng cửa Nhân đạo
PAD đóng cửa Súc sanh đạo
ME đóng cửa Ngạ quỷ đạo
HUM đóng cửa Địa ngục đạo

OM làm sạch chướng của Thân
MA lọc sạch Khẩu
NI làm sạch Ý
PAD làm sạch phiền não chướng
ME làm sạch tập khí huân tập
HUM làm sạch sở tri chướng

Thông thường Chân ngôn không được giải nghĩa, tuy nhiên có thể hiểu "Ngọc quý" biểu hiện cho "Bồ đề tâm", "Hoa sen" chỉ tâm thức con người. Tâm bồ đề nở trong lòng người. Sáu âm tiết của Chân ngôn cũng được xem là tương ứng với sáu cõi tái sinh:

OM là màu trắng: Thiên
MA là màu xanh lá cây: A tu la
NI là màu vàng: Nhân loại
PAD là màu xanh da trời, xanh nhạt: Súc sinh
ME là màu đỏ: Ngạ quỷ
HUM là màu đen: Địa ngục


Theo:
- Wikipedia.
- Từ Bát Nhã đến Pháp Hoa - Phạm Công Thiện - Nhà xuất bản Hồng Đức xuất bản năm 2012.

--> Read more..

Thứ Bảy, 30 tháng 6, 2012

Được mang máy ghi âm, ghi hình vào phòng thi Liên quan đến việc này, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga cho biết: Hai điểm mới trong quy chế tuyển sinh Ngày 29-6, Bộ GD-ĐT ban hành thông tư “Sửa đổi, bổ sung một số điều quy chế tuyển sinh ĐH, CĐ hệ chính quy”. Cụ thể, điểm d, khoản 3, điều 25 được sửa đổi, bổ sung như sau: “Không được mang vào phòng thi vũ khí, chất gây nổ, gây cháy, bia rượu, giấy than, bút xóa, tài liệu, thiết bị truyền tin hoặc chứa thông tin có thể lợi dụng để gian lận trong quá trình làm bài thi và quá trình chấm thi”. Bộ GD-ĐT cũng bổ sung điểm d, khoản 3, điều 9 quy định về việc “Tổ chức tiếp nhận và xử lý thông tin phản ánh tiêu cực trong kỳ thi...”. - Sửa đổi, bổ sung quy chế thi tuyển sinh ngay sát ngày thi ĐH với nội dung chủ yếu nhằm khuyến khích việc phát hiện, tố giác những hành vi vi phạm quy chế thi, bộ muốn thể hiện quyết tâm cao về việc chống gian lận, tiêu cực trong thi cử, hướng đến một kỳ thi tuyển sinh trung thực, nghiêm túc. Quy chế bổ sung áp dụng đầu tiên cho mùa tuyển sinh 2012 sẽ tạo ra thay đổi lớn về quản lý thi, thí sinh được khuyến khích giám sát hoạt động của giám thị, phát hiện và tố giác những hành vi vi phạm quy chế tuyển sinh.

--> Read more..

Thứ Sáu, 29 tháng 6, 2012

Mật giáo.

                                            Tượng Phật Đại Nhật Như Lai.


Ấn Độ giáo (Hinduism) hình thành bắt nguồn từ một tôn giáo cổ đại của Ấn Độ là Bà La Môn giáo (Bhramanism) vào khoảng giữa thế kỷ thứ nhất. Ấn Độ giáo dung hợp với các tín ngưỡng dân gian khác đang lưu hành trong xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ, và cũng hấp thu tư tưởng của Phật giáo, Kỳ Na giáo (Jinaism)*. Ấn Độ giáo hình thành trên tư tưởng của bộ kinh Vệ Đà (Véda) của Bà La Môn giáo, sùng bái đấng tối cao Phạm Thiên, và hình thức sùng bái là tế lễ, cúng dường, trì chú... sau này chủ trương đề xướng tính dục, mượn tính lực để giải thoát... Những điều này có ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của Mật giáo.

Khoảng thế kỷ thứ 7 Phật giáo Ấn Độ bắt đầu suy yếu, đặc biệt là học thuyết, lý luận của "Du  Già hành phái" (Yoga) của Phật giáo Đại thừa đã trở nên quá kinh viện, vô cùng rắc rối và phức tạp, rất khó để đại chúng tiếp thu. Trong tình hình đó, Phật giáo Đại thừa vì muốn hấp dẫn quần chúng, không thể không hấp thu một số giáo nghĩa và hình thức của Ấn Độ giáo lúc bấy giờ, để hình thành nên Mật giáo trong Phật giáo Ấn Độ.

Mật giáo tự cho là đã nhận được lời dạy "Chân thật" từ Pháp thân của Phật Đại Nhật Như Lai  (Mahàvairocana, Tì Lô Giá Na)**, được sự truyền thụ bí mật do Đại Nhật Như Lai, nên xưng là Mật giáo. Đặc điểm của tông phái này là sự tổ chức hóa cao độ các loại thuật chú, đàn trường, nghi lễ... với các nghi thức như Thiết đàn, cúng dường, tụng kinh, niệm chú, quán đảnh... với các qui định vô cùng nghiêm khắc, hình thức phức tạp, không phải là người trong tông phái thì tuyệt đối không được truyền ra ngoài. Kinh điển chủ yếu của Mật giáo là Đại Nhật kinh, Kim Cang đỉnh kinh, Mật tập kinh, Hỷ Kim Cang kinh, Thời Luân kinh, Tô Tất địa kinh...

Sau khi xuất hiện, Mật giáo từng có thời kỳ thịnh hành ở vùng Tây Nam Ấn Độ, và các địa khu của cao nguyên Đức Cán... Thời kỳ đầu Mật giáo dung hợp tư tưởng của phái Trung Quán (Madhyamika), Du Già hành làm cơ sở lý luận, nhưng sau khi phát triển, sau này xuất hiện một số Mật giáo tả đạo, bỏ qua những lý luận, học thuyết vốn có, phương pháp tu hành càng cường điệu về "phương tiện", bị ảnh hưởng tương đối lớn của trường phái tính lực Ấn Độ giáo. Từ đó Mật giáo Ấn Độ bắt đầu suy thoái...

Vào những năm Khai Nguyên đời Đường (713 - 741), Những tăng nhân Ấn Độ là Thiện Vô Úy (Subhakarasimha, 637 - 735); Kim Cang Trí (Vajrabodhi, 663 - 723); và Bất Không Kim Cang (Amoghavajra, 705 - 774), kẻ trước người sau tới Trường An, đem kinh điển, tư tưởng và học thuyết của Mật giáo Ấn Độ truyền vào Trung quốc, phát triển thành Mật tông, trở thành một trong những tông phái của Phật giáo Trung Hoa.

Một chi khác của Mật giáo Ấn Độ, được truyền vào Tây Tạng kết hợp với "Bổn giáo", là một tôn giáo nguyên thủy của người Tây Tạng, hình thức thờ bái vật, sùng bái các sự vật và hiện tượng tự nhiên, thành tín thần chú, bùa chú yêu thuật, chuyên trị bệnh phục vụ người chết, xua đuổi tà ma... trở thành Mật tông Tây Tạng, điều này làm cho Phật giáo Tây Tạng (Phật giáo Tạng truyền), tăng thêm sắc thái thần bí...

Tại Việt Nam hiện cũng có những Đạo tràng tu tập theo Phật giáo Mật tông, có những tác giả dịch thuật những bài kinh thuộc tạng kinh Mật giáo, và cũng có những tự viện tu theo Mật tông như chùa Tây Tạng (Bình Dương), Tịnh viện Hải Triều Âm (Đại Ninh)...

Ghi chú:

- * Kỳ na giáo (Đạo Jina - Jinaism): xuất hiện tại Ấn Độ vào thế kỷ thứ 6 Trước công nguyên. Theo truyền thuyết, đạo Jina do 24 nhà tiên tri truyền lại từ thời cổ xưa, người gần đây nhất là Vardhamana Mahavira Jina, về sau trở thành Karma, nghĩa là tự giải thoát khỏi kiếp luân hồi, tạo đường độ thế. các tín đồ đạo Jina thờ các tiên tri làm thần linh. Giáo lý của đạo tin về một linh hồn bất tử. Các tín đồ phải duy trì cuộc sống chay tịnh và làm theo các quy định của Ahimsa, nghĩa là không bạo động, không sát sinh... các quy định này cũng được Phật giáo áp dụng sau này.

- ** Phật Đại Nhật Như Lai: theo quan niệm của Phật giáo Đại thừa Đức Phật có ba thân: Pháp thân, Báo thân và Hóa thân. Đại Nhật Như Lai chính là Pháp thân của Phật Thích ca. Trong Kim Cang giới Mạn Đà La của mật giáo thì Đại Nhật Như lai ở vị trí trung tâm, ngài là biểu hiện của ánh sáng trí tuệ chiếu soi diệt trừ bóng tối Vô minh.

Tham khảo và ghi chép từ:

- Tủ sách Bách khoa Phật giáo - Lịch sử Phật giáo - Nguyễn Tuệ Chân biên dịch, Nhà xuất bản Tôn giáo tái bản lần thứ nhất năm 2011.

- Thế giới Phật giáo Phương diện lịch sử Văn hóa và Minh triết - Điền Đăng Nhiên - Dịch giả Thích Ngộ Thành, Nhà xuất bản Văn hóa Sài gòn xuất bản năm 2009.

- Từ điển Phật học - Ban biên dịch Đạo Uyển - Chân Nguyên, Nguyễn Tường Bách, Thích Nhuận Châu, Công ty sách Thời Đại & Nhà xuất bản Thời Đại ấn hành năm 2011.

- Từ điển Vô thần luận - Cung Kim Tiến, Nhà xuất bản Phương Đông xuất bản năm 2006.

- Từ điển Bách khoa mở Wikipedia.
--> Read more..

Thứ Tư, 27 tháng 6, 2012

Euro 2012.

Ảnh trên mạng.

Trước khi tuyển Pháp bước vào Euro 2012, chủ tịch LĐBĐ Pháp Noel Le Graet tuyên bố sẽ thưởng cho mỗi cầu thủ 100.000 euro nếu vào đến tứ kết, 50.000 euro nữa nếu vào bán kết, thêm 70.000 euro nếu vào chung kết và 100.000 euro nếu đoạt chức vô địch. Tổng cộng mỗi cầu thủ Pháp sẽ nhận 320.000 euro nếu đăng quang.

Nhưng khi đã bị loại ở tứ kết, họ có xứng đáng nhận được tiền thưởng này không? Hervé Gattegno, tổng biên tập báo Le Point, cho rằng các tuyển thủ Pháp không đáng được hưởng tiền thưởng sau những gì họ đã thể hiện ở trận tứ kết.

Ông Gattegno lý giải: “Không nên lẫn lộn đội tuyển Pháp và nước Pháp. Ai đó có thể vui sướng với những thành tích của các cầu thủ, hay ai đó cũng có thể thấy họ là đáng phàn nàn, nhưng chẳng phải là toàn thể nước Pháp đều vui mừng hay tủi hổ. Các cầu thủ mặc những cái áo màu xanh da trời bởi vì họ được trả lương để làm như thế. Sự nổi tiếng đem đến cho họ những trách nhiệm nhưng không đem lại cho họ tính đại diện. Vì vậy, lương tri dạy cho chúng ta không nên xem họ như những anh hùng khi họ chiến thắng, cũng như không nên xem những thất bại của họ như những nỗi nhục nhã. Cách ứng xử của họ là đáng xấu hổ, nhưng đó chỉ là của riêng họ mà thôi”.

Khi được hỏi về sự giận dữ của những người Pháp yêu bóng đá, ông Gattegno nói: “Các cầu thủ của chúng ta thường là những đứa trẻ ngạo mạn và ít được giáo dục, một số lại thất học nên tiền bạc là giá trị duy nhất của họ. Trong khi đó, các nhà lãnh đạo của liên đoàn hay của các CLB thường nuông chiều những đòi hỏi bất thường, đỏng đảnh của họ. Thái độ chê trách mà người ta dành cho họ đâu phải mới hôm nay. Thực tế là CĐV của chúng ta đã chấp nhận khi họ lập thành tích bằng tay (ý nói chơi xấu) nhưng lại không chấp nhận khi họ bị loại vì chơi bóng bằng... chân”.

Nhớ lại năm 1998 khi tuyển Pháp giành chức vô địch World Cup, các cầu thủ đã được tán tụng đến tận mây xanh, ông Hervé Gattegno nhận định: “Thần tượng không phải là tấm gương sáng vì những gì họ làm trên sân cỏ có thể là rất đáng nể, nhưng lại không phải là những gì họ làm trong cuộc sống. Dù ai nói gì nhưng theo tôi, đội tuyển Pháp năm 1998 không đại diện cho nước Pháp. Zidane không hề là một mẫu mực về sự trong sạch. Anh ta là một cầu thủ giỏi nhưng người ta vẫn thấy anh ta gian lận, chơi xấu. Phải nói rằng chiến thắng đã xóa nhòa tất cả và chúng ta đành lòng phải chịu thiếu những giá trị tốt đẹp mà thể thao đã khắc ghi trong tâm trí con cháu chúng ta”.

Về khoản tiền thưởng, ông Gattegno nhấn mạnh: tiền thưởng của LĐBĐ Pháp cũng là tiền của người dân nên thật khó để nói rằng các cầu thủ đáng được hưởng những khoản tiền thưởng ấy. Nếu các cầu thủ không có được sự liêm sỉ để từ chối, các nhà lãnh đạo cần phải cắt bỏ và nói với họ: trong tương lai, không chỉ thành tích sẽ được tưởng thưởng mà còn phải xét cả cách ứng xử trên sân cỏ.

T.N.


Euro 2012 đã đi đến những trận bán kết, là một người trước đây cũng khá mê bóng đá (bây giờ ít mê hơn), thường xem những trận đấu, nhất là những dịp tranh cúp Thế giới hay Châu Âu... Bài viết trên được copy trên trang Thể Thao của báo Tuổi Trẻ ngày 27-6-2012. Người Pháp là dân tộc nổi tiếng lịch sự, nhưng họ cũng có những cái nhìn thẳng thắn về bóng đá, và về những cầu thủ của họ...

Một bài viết rất hay, trông người lại ngẫm đến ta...


--> Read more..

Thứ Ba, 26 tháng 6, 2012

Thập bát A la hán.




Trong kinh sách Phật giáo chúng ta thường hay nghe nhắc đến các vị A la hán, hay La hán, có khi lên đến 500 vị. Có sách nói đó là 500 đệ tử của Phật, cũng có sách nói đó là 500 tăng nhân tiến hành lần kết tập (kiết tập) kinh sách đầu tiên sau khi Phật tịch diệt. Vào thời nam Tống Trung Hoa, có một quan chức tên là Đạo Tố bỏ nhiều công sức tâm huyết biên dịch kinh Phật, đã đặt tên cho 500 vị La hán này, và khắc bia tưởng niệm. Từ đó nơi các chùa chiền, 500 vị La hán thờ tự đều sử dụng tên gọi đó. Tuy nhiên chúng ta thường hay nghe nhắc đến Thập bát A la hán, mười tám vị A la hán hay muời tám vị La hán. Số lượng các vị La hán không ngừng thay đổi, thoạt đầu chỉ có bốn vị La hán (Tứ đại La hán), là bốn đệ tử của Phật ở thế gian để giáo hóa mọi người. Về sau tăng lên thành 16 vị, sau đó thêm vào 2 vị nữa trên cơ sở 16 vị, thành tổng cộng 18 vị, cũng chính là nguồn gốc của 18 vị La hán (tượng) mà chúng ta thường thấy nơi các chùa. Đó là các vị La hán (được xếp theo thứ tự):

1/ Tân độ lô phả la đọa la (Pindolabhàradvàja) - Kỵ lộc La hán - Vị La hán vốn xuất thân dòng dõi Bà la môn, trước khi xuất gia là đại thần của Ưu Trấn Vương thành Câu Xá Di, đặc điểm của ngài tuy đã chứng quả La hán nhưng hay khoe khoang, ngài từng cưỡi một con hươu về thành Câu Xá Di khuyên quốc vương quy y Phật, cho nên còn được gọi là "Kỵ lộc La hán", tức La hán cỡi hươu.

2/ Ca nặc ca phạt tha (Kanakavatsa) - Khánh hỷ La hán - Ngài vốn là một nhà hùng biện, được Đức Phật khen ngợi là người biết phân biệt thị phi rõ ràng. Sau khi đắc quả La hán ngài đã đi giáo hóa khắp nơi với một gương mặt tươi vui, nên được gọi là Khánh hỷ La hán, vị La hán vui vẻ.

3/ Ca nặc ca bạt lý đọa xà (Kanakabharadvàja) - Cử bát La hán- Tôn giả ca nặc ca thường mang theo một cái bát sắt bên mình khi du hành khất thực, mỗi lần hóa duyên đều đưa bát về phía mọi người cầu xin, nên được gọi là La hán Cử bát.

4/ Tô tần đà (Subinda) - Thác tháp La hán - Ngài tu tập rất tinh nghiêm, giúp người nhiệt tình, nhưng ít thích nói chuyện. Để bày tỏ lòng tôn kính đối với Đức Phật ngài luôn mang theo một tháp nhỏ bên mình, nên được gọi là Thác tháp La hán.

5/ Nặc cù la (Nakula) - Tĩnh tọa La hán - theo truyền thuyết ngài thuộc giai cấp Sát đế lợi Bà la môn, là giai cấp được sinh ra từ vai của Phạm thiên, nguyên là một tướng sĩ, ngài đắc quả A la hán khi đang tọa thiền nên được gọi là Tĩnh tọa La hán.

6/ Bạt đà la (Bhadra) - Quá giang La hán - Ngài theo hầu Đức Phật, theo truyền thuyết ngài rất thích tắm gội có khi đến 10 lần một ngày. Tương truyền ngài đến quần đảo miền đông Ấn độ (quần đảo Java) để truyền giáo, nên được gọi là Quá giang La hán.

7/ Ca lý ca (Kalica) - Kỵ tượng La hán - Trước khi xuất gia ngài làm nghề huấn luyện voi nên được gọi là Kỵ tượng La hán, sau khi chứng quả A la hán Đức Phật khuyên ngài ở lại quê hương Tích Lan (Sri lanka) của ngài để hoằng hóa Phật pháp.

8/ Phạt xà la phất xa la (Vajraputra) - Tiếu sư La hán - Tương truyền khi còn ở thế tục ngài làm nghề thợ săn, có sức mạnh vô song. Sau khi xuất gia ngài nỗ lực tu tập chứng quả A la hán, thường có một con sư tử bên cạnh, nên được gọi là Tiếu sư La hán, vị La hán đùa giỡn với sư tử.

9/ Thú bát ca (Jivaka) - Khai tâm La hán - Ngài vốn là Thái tử của nước Trung Thiên Trúc xuất thân trong giai cấp Bà la môn, hình tượng của ngài là vạch áo bày lộ tâm Phật nên được gọi là Khai tâm La hán.

10/ Bán thác ca (Panthaka) - Thám thủ La hán - Hình tượng của ngài là đưa hai tay lên rất sảng khoái sau khi thiền định nên gọi là Thám thủ La hán.

11/ La hầu la (Ràhula) - Trầm tư La hán - Ngài là người ít nói, luôn khiêm cung nhẫn nhục, nên được gọi là Trầm tư La hán, có sách chép ngài là con trai của Đức Phật, nhờ Đức Phật dạy bảo bỏ dần những thói xấu vương giả, ngài nỗ lực tu tập đạt đến Chánh quả, ngài là một trong 16 vị La hán đầu tiên.

12/ Na già tê na (Nàgasena) - Khoái nhĩ La hán - Là một nhà lý luận Phật học, sở trường của ngài là luận "Nhĩ căn", tranh tượng của ngài thường tạc một vị La hán đang ngoáy tai một cách thích thú, nên còn được gọi là Khoái nhĩ La hán.

13/ Nhân kiệt đà (Angada) - Bố đại La hán -  theo truyền thuyết ngài là một thợ bắt rắn ở Ấn độ, một xứ sở vốn có rất nhiều rắn độc, sau khi đắc đạo ngài cũng thường mang một túi vải bên mình để đựng rắn, nên được gọi Bố đại La hán.

14/ Phạt na bà tư (Vanavàsin) - Ba tiêu La hán - Theo truyền thuyết mẹ của ngài sinh ngài khi vào rừng gặp lúc mưa to gió lớn. Sau khi xuất gia với Phật ngài thích tu tập trong rừng, và thường đứng dưới gốc các cây chuối, nên được gọi là Ba tiêu La hán.

15/ A thị đa (Ajita) - Trường mi La hán - Theo truyền thuyết lúc mới sanh ngài đã có hàng lông mày dài rủ xuống,  dấu hiệu kiếp trước ngài đã là một nhà sư. Sau khi theo Phật xuất gia ngài phát triển Thiền quán và đắc quả A la hán. Vì có hàng lông mày dài cho nên ngài được gọi là Trường mi La hán.

16/ Chú trà bàn thác ca (Cullapatka) - Kháng môn La hán - Theo truyền thuyết trong một lần khất thực, ngài gõ cửa một nhà nọ và làm và làm ngã cánh cửa đã hư cũ, điều này cũng gây bối rối. Sau Phật trao cho ngài một cây gậy có treo những chiếc chuông nhỏ để khỏi phải gõ cửa, nếu chủ nhân muốn bố thí sẽ bước ra cửa khi nghe thấy tiếng chuông rung, do đó ngài được gọi là Kháng môn La hán.

17/ Nan đề mật đa la (Nandimitra) - Hàng Long La Hán - Ngài là người nước Sri Lanka, ra đời sau khi Đức Phật diệt độ khoảng 800 năm, ngài là vị La hán thần thông quảng đại. Tương truyền có lần đảo quốc Sư tử (Sri Lanka) bị Long vương dâng nước nhận chìm, ngài đã ra tay hàng phục được long vương, nên được tặng danh hiệu Hàng long La hán.

18/ Đạt ma đa la (Dharmatràta), có sách chép là Tân đầu lô - Phục hổ La hán - Tương truyền rằng bên ngoài nơi tự viện mà ngài tu tập, có một con hổ ngày đêm gầm rống, ngài đem thức ăn của mình chia bớt cho hổ, lâu ngày mãnh thú bị hàng phục, đi đâu cũng theo ngài, nên ngài được gọi là Phục hổ La hán.

Trên đây là ý nghĩa, tên gọi của mười tám vị La hán chúng ta hay nhìn thấy trong các chùa chiền hay tranh, tượng Phật giáo, nhìn hình nhỏ bên trên chúng ta cũng có thể nhận ra một số vị La hán, chẳng hạn Kỵ tượng và Kỵ lộc La hán, Khai tâm La hán, Phục hổ La hán, Thám thủ La hán, Kháng môn La hán, Bố đại La hán (có bụng phệ giống Phật Di lặc)... Nếu hình lớn nhìn rõ hơn chắc sẽ nhận ra được nhiều hơn. Ngoài ra theo Phật giáo Tiểu thừa (Phật giáo Nguyên thủy), thì A la hán, hay La hán, là quả vị cao nhất của của người tu tập theo hệ phái Tiểu thừa.


--> Read more..