
Thứ Năm, 30 tháng 8, 2012
Rằm tháng bảy.

Thứ Ba, 28 tháng 8, 2012
Sách.
Việt Nam Tự Điển của Ban Văn Học Hội Khai Trí Tiến Đức soạn (hình 1, 2, 3).

Thỉnh thoảng tôi có viết về sách và đọc sách, vì với tôi đây là một thói quen từ thuở bé trong gia đình, một thói quen chắc chắn khi nào còn có thể đọc được chữ tôi sẽ vẫn còn giữ không thể bỏ. Cùng với thói quen đọc sách thì cách tốt nhất để có sách đọc là mua sách, thời còn là học sinh tôi đã mua sách, dĩ nhiên lúc ấy chẳng có tiền nhiều để mà mua sách, thỉnh thoảng chỉ mua những quyển sách nào mà mình thích hoặc cần lắm. Ở một vài entry trước tôi cũng đã nói những ngày trước năm 1975, chủ yếu là khoảng thời gian từ năm 1971 đến tháng 4 năm 1975 tôi xa nhà (xa Sài Gòn) tôi đã mua khá nhiều sách, đủ loại, sách văn học, sách học chữ Nho, sách khảo cứu, sách về Phật giáo...
Nhưng cho đến năm 1975 (sau 30 tháng 4), thì tất cả sách vở của tôi có được đều bị chung một số phận của... sách (một giai đoạn lịch sử đáng ghi nhớ) là bị tịch thu sạch với "chủ đề" xóa "văn hóa phẩm đồi trụy". Thật sự là tôi không trách gì thảm trạng đó, vì đó là "cái nạn" chung của tình hình "hỗn quân hỗn quan" lúc bấy giờ. Thật ra thì tôi cũng vẫn còn giữ lại được mươi lăm quyển ít ỏi, đó là những sách như tự điển Việt Nam, Hán - Việt, Pháp - Việt, hoặc Anh - Việt, và một vài quyển sách về Phật giáo, Sử ký Tư Mã Thiên, Chiến quốc sách, sách học chữ Nho...
Quyển Nho Văn - Giáo khoa toàn thư in tại Sài Gòn năm 1970.
Bảng tra chữ Nôm - in tại Hà Nội Năm 1976.Chủ nhật vừa rồi về thăm ông cụ tôi, lục lại đám sách cũ trên kệ sách tình cờ tôi đã tìm lại được mấy quyển sách rất hay, không những ở nội dung của sách, mà còn vì đây là những quyển sách một thời tôi đã mua được... Quyển sách đầu tiên tôi muốn nói đến là quyển Việt Nam Tự Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức, quyển sách này do Phạm Quỳnh và một nhóm học học giả miền Bắc soạn phát hành vào năm 1931 tại Hà Nội, như trang đầu tiên của tự điển có in phía dưới: (HaNoi - Ấn quán Trung-Bắc Tân-Văn 1931)
HANOI
Imprimerie Trung-Bac Tân-Van
1931
Theo sách vở chép thì quyển Việt Nam Tự Điển của nhóm Khai Trí Tiến Đức được in ấn trên "nền" của quyển tự điển "Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của, tuy nhiên Đại Nam Quấc Âm Tự Vị ngoài phần chữ quốc ngữ, còn phần ghi chú bằng chữ Nôm và chữ Hán, trong khi quyển Việt Nam Tự Điển của nhà Khai Trí Tiến Đức chỉ có phần ghi chú bằng chữ Hán, đối với những từ ngữ âm Hán Việt, còn từ "Nôm" thì chỉ ghi bằng chữ quốc ngữ, không có phần chú thích bằng chữ Nôm. Quyển sách Việt Nam Tự Điển được in lại tại Sài Gòn vào năm 1968, và tôi đã mua tại Sài Gòn vào khoảng năm 1972 hoặc 1973 trong một lần về phép, vậy là đã ngót bốn mươi năm. Ngoài trang đầu còn chữ ký bằng bút chì của tôi, tên ký lúc bấy giờ, và cả chữ Phạm Ngọc Hiệp viết bằng chữ Nho, nhưng không hiểu sao tôi lại không ghi ngày tháng năm... Đây là một quyển Tự điển Việt Nam rất hay, trong quyển sách này có giải nghĩa được những từ ngữ cổ mà Tự điển tiếng Việt bây giờ không có...
Quyển thứ hai là quyển Nho Văn Giáo Khoa Toàn Thư, của Giáo sư Nguyễn Văn Ba - Việt Nam Văn Hiến tái bản lần thứ 3 tại Sài Gòn năm 1970, tôi cũng đã mua cùng với quyển Việt Nam Tự Điển của nhà Khai Trí Tiến Đức...
Quyển thứ ba là quyển Bảng Tra Chữ Nôm, quyển này của Viện Ngôn Ngữ Học - Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội - Hà Nội xuất bản năm 1976 tại Hà Nội, và tôi cũng mua ở Sài Gòn vào năm đó (1976), trên quyển sách còn chữ ký và ghi cả năm mua, quyển sách này là một loại Tự vị về chữ Nôm...
Tìm lại được những quyển sách này tựa như tôi đã gặp lại được những bạn bè thân thiết sau mấy mươi năm...
Chủ Nhật, 26 tháng 8, 2012
Di tích...
Chùa Trăm Gian bị hủy hoại:
Báu vật không người trông coi
TT - Chùa Trăm Gian tuổi ngót ngàn năm, di tích quốc gia đặc biệt quý hiếm đã bị hủy hoại mà không ai hay. Chỉ có thể nói là một vụ việc bi hài khó tưởng tượng đã diễn ra.
Gác khánh và nhà tổ cổ kính còn vững chãi bỗng dưng bị đập bỏ để dựng các công trình... một ngày tuổi - Ảnh: quân anh
Chùa Trăm Gian danh tiếng ở xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội khởi dựng từ thời Lý, được Nhà nước công nhận là di tích quốc gia đã ngót nửa thế kỷ. Vậy mà bao năm nay nó liên tục bị trùng tu tôn tạo kiểu làm hỏng di tích, vụ nào cũng thuộc diện “không thể nào quên”, và ở tình trạng khi phát hiện nó đã “lỡ” rồi, đành lặng lẽ... rút kinh nghiệm, bỏ qua. Sơn lại tranh tượng quý bằng sơn công nghiệp Nippon; làm mới bệ tượng, bàn thờ bằng ximăng, gạch ốp lát công nghiệp xanh đỏ tím vàng; xây mới các dãy hành lang đánh bóng cột kèo bằng vécni. Chưa hết, một bãi chiến trường của gạch, đá, gỗ lạt đang ngổn ngang trưng ra trong những ngày cuối tháng 8-2012 này ở chùa Trăm Gian.
Làm mới cho nó vững bền
Suốt hơn 100 ngày thi công ầm ĩ vừa qua, nhiều tỉ đồng được “tài trợ” làm hủy hoại di tích quốc gia rồi, mà cơ quan chức năng từ thôn, xã, huyện, thành phố, trung ương không ai hay biết. Đến khi nhận được tin “sét đánh” thì ôi thôi nhà tổ, gác khánh tuyệt đẹp, cổ kính ngàn năm của chùa đã bị đập ra, xây mới hoàn toàn. “Công trình trái phép” cơ bản đã “kịp tiến độ” - làm mới di tích 100% trước khi thanh tra Bộ Văn hóa - thể thao và du lịch cùng Cục Di sản văn hóa... về thị sát. Ngày 24-8, ngay lập tức, biên bản yêu cầu đình chỉ thi công “làm mới” chùa Trăm Gian được ký tại sân chùa. Nhưng đã quá muộn. Sự đã rồi. Giờ biết kêu ai?
Các bức ảnh cũ còn nguyên. Bậc đá cao vút dẫn vào chùa bao năm nay rêu phong cổ kính, đá được đẽo gọt thủ công tuyệt mỹ, giờ bị đập ra toàn bộ, ném di vật chỏng chơ ngay sân chùa, để đá xẻ thời nay thay thế. Khu gác khánh vững chãi, thâm nghiêm, cột lim to, nền gạch vững hơn bàn thạch tọa lạc cạnh chùa chính, gần nhà tổ, gần cây hương nghi ngút khói ngàn năm lịch sử giờ mở lại xem trong ảnh vẫn thấy rõ cả trống đại, khánh lớn, rồi các cụ vãi vui vầy cửa Phật. Vậy mà những người chủ trương làm mới chùa Trăm Gian bảo với các quan thanh tra rằng: “Di tích cổ sắp đổ, chúng tôi phải dỡ ra khẩn cấp trước mùa mưa bão 2012” (!). Kết quả là từ đá tảng xanh chân cột, đá gạch cổ viền quanh di tích, các cấu kiện gỗ, ngói, rui mè..., tất cả đều bị đập phá bằng búa tạ, dỡ ra ném bỏ. Một gác khánh mới toanh từ nền đất lên đến đỉnh nóc đã hình thành, khi đoàn thanh tra đến đơn vị thi công chỉ còn thiếu lợp nốt ngói lên nóc nữa là coi như xong “gác khánh và nhà tổ... một ngày tuổi”.
Nhà tổ thì nhiều cột mục hơn so với gác khánh quá vững chãi vừa bị “chết oan” kia, nhưng như các chuyên gia bảo tồn từng nhiều lần khuyến cáo, cột lim nào cũng dễ bị tiêu tâm rỗng lõi. Nhưng nó mục rỗng lõi thì không có nghĩa là buộc phải dỡ ra thay mới. Nếu để yên thì nó vẫn cứ vững chãi mãi. Mà nếu trùng tu thì cần thay thế có tính toán, thậm chí chèn, kê, luồn gỗ vào các khúc tiêu tâm đó để có một cái cột vững chãi theo đúng nghĩa bảo tồn. Nhưng dù ai nói ngả nói nghiêng, nhà chùa vẫn dỡ toàn bộ nhà tổ, bỏ tất tật cấu kiện gỗ, gạch, đá cũ, bóc cả nền lên, đào hoắm xuống hơn chục xăngtimet, đổ bêtông toàn bộ, 100% vật liệu mới, dựng một cái nhà tổ mới toanh. Cụ Tuệ, năm nay 82 tuổi, được bà con “chuộng xây mới” bầu ra làm người chấp tác vinh dự nhất, được leo lên cất nóc cho di tích đang được làm mới. Cụ khoe: “Di tích còn tốt, gỗ lạt còn tốt, nhiều cái không cần thay, cứ để vậy thì còn lâu mới hỏng, nhưng có điều kiện thì chúng tôi tổ chức dỡ ra, thay mới toàn bộ cho nó bền. Không lấy lại một cái cấu kiện cũ nào cả. Thay tất”.
Trao đổi với chúng tôi, đại diện đơn vị tổ chức thi công “dự án tự phát” đầy bất cập kể trên, bà Khoa (người trụ trì chùa Trăm Gian) cũng thừa nhận: người ta đã dỡ gác khánh, nhà tổ ra, thay mới toàn bộ. Tiền do các nguồn vận động, đóng góp “bên ngoài” chứ không phải từ ngân sách nhà nước.
Những tác phẩm điêu khắc cổ vô giá (ảnh trên) đã được làm mới lòe loẹt bằng sơn Nippon - Ảnh: Q.anh
Nỗi đau ở bên ngoài việc “phá” chùa Trăm Gian
Đau xót là ngay cả khi nhà tổ và gác khánh bị phá bỏ như đã kể trên thì chính quyền địa phương, ngành văn hóa địa phương không hề có động thái can thiệp hữu hiệu nào, đặc biệt là nhiều cán bộ lẽ ra phải sâu sát thực tế (như trưởng, phó ban quản lý di tích chùa Trăm Gian, chủ tịch, phó chủ tịch UBND xã) thì họ lại thản nhiên “không biết, không biết và không biết”. Đến giờ phút này, chính quyền xã Tiên Phương vẫn không biết gì về những “nỗi đau” diễn ra ầm ầm ở gần trụ sở UBND xã mình. Trưởng phòng văn hóa huyện càng không biết, Ban quản lý di tích của Hà Nội không biết, lãnh đạo Cục Di sản khi được hỏi cũng chỉ nói “sẽ kiểm tra”...
Trước khi thông tin về việc làm mới chùa Trăm Gian được đưa đến cơ quan chức năng để có sự kiện đoàn thanh tra về xem xét, thì phóng viên chúng tôi đã hỏi rất nhiều bô lão và cán bộ đương chức ở địa phương. Họ đều tỏ ý bất bình vì không được thông báo, không được hỏi ý kiến trước các việc “sửa chữa” kia. Bài học ở đây là: thiết chế quản lý của chúng ta với di sản quá lỏng lẻo. Lẽ nào chính quyền xã không biết và không dám đòi hỏi bằng được quyết định, văn bản, giấy tờ, chủ trương trùng tu, trước khi bất kỳ ai phá dỡ di tích quốc gia trên địa bàn của mình? Lẽ nào (giả dụ) không ngăn chặn được việc sai trái kia, mà người dân rồi chính quyền lại không đi báo cấp trên, báo lực lượng chức năng để xử lý? Giả dụ có ai đó gọi điện thoại cho Cục Di sản hay thanh tra Bộ Văn hóa - thể thao và du lịch thông báo việc khởi công ầm ĩ trong khuôn viên báu vật chùa Trăm Gian thì có lẽ mọi việc sẽ không sầu thảm như lúc này.
Báu vật không có người trông coi. Nó bị “tàn sát” cũng không có gì đáng ngạc nhiên.
NGUYỄN THỊ THANH TÂM
Tôi copy bài trên báo Tuổi Trẻ ngày hôm nay 26-8-2012 nói về một di tích ngót ngàn năm tuổi bị tàn phá ở Hà Nội, là chùa Trăm Gian một "di tích quốc gia đặc biệt quý hiếm đã bị hủy hoại", như bài báo đã viết. Thật lạ lùng khi sự việc cứ xảy ra như thế, hay chẳng có gì lạ khi sự việc nó vốn thế, bởi đây không phải là lần đầu di tích quốc gia bị xâm phạm...
Điệu này thì phải đi Hà Nội gấp, hoặc chẳng nên đi nữa rồi... .
Thứ Bảy, 25 tháng 8, 2012
Duyên...
Thứ Năm, 23 tháng 8, 2012
Xôi bắp - Xôi ngô - hay Xôi lúa?
Xôi bắp miền Bắc (xôi lúa) (Ảnh: Internet)Một món quà sáng bình dân rẻ tiền thỉnh thoảng tôi hay ăn, đó là món xôi bắp, và bạn bè cũng đã từng ngồi "cà phê chim" xực xôi bắp với tôi vào buổi sáng tại vườn Tao Đàn. Món xôi bắp ở Sài Gòn có hai loại, là xôi bắp của người miền Nam và xôi bắp của người miền Bắc. Xôi bắp tôi muốn nói ở đây thuộc loại sau, tức là xôi bắp được nấu theo kiểu Bắc, như hình chụp bên trên. Dĩ nhiên nguyên liệu chính để nấu xôi bắp phải là hạt bắp, mà người miền Bắc gọi là ngô, hạt bắp ở đây là hạt già khô được ngâm và "đồ" cho bung lên, thêm một ít hạt gạo nếp dẻo để kết dính những hạt bắp (có người làm chỉ thuần bắp, không có gạo nếp), đậu xanh đồ chín giã nhuyễn rắc lên trên, và hành phi, đường, đậu phọng (lạc), mè (vừng) giã nhỏ. Xôi bắp của người Bắc làm như thế, ăn thơm, bùi...
Xôi bắp miền Nam (Ảnh: Internet)Còn món xôi bắp được nấu theo kiểu miền Nam có hơi khác, như các bạn thấy trên hình, bắp cũng được bung nhừ nhưng có hơi nhão hơn xôi bắp nấu theo kiểu miền Bắc, và như rất nhiều món ăn miền Nam luôn có dừa, xôi bắp cũng thế, dừa bào sợi và cả nước dừa được rưới vào xôi, thêm ít đường và đậu phọng, mè giã nhỏ, xôi bắp miền Nam ăn ngọt, béo... Xôi bắp miền Bắc và xôi bắp miền Nam cách làm khác nhau, nên khi ăn cho ta những hương vị khác...
Nhưng thuở tôi còn nhỏ (hơn nửa thế kỷ) thì món xôi bắp nấu theo kiểu miền Bắc ở Sài Gòn tôi lại nghe những người lớn trong nhà gọi là "xôi lúa". Thời tôi còn con nít nhóc tì hôm nào buổi sáng sớm được cha mẹ cho năm hào (miền Nam gọi là năm cắc), hay một đồng đi mua xôi lúa ăn là sướng phải biết. Trong nhà gọi là xôi lúa, nhưng ra đường chơi với đám trẻ con bằng vai phải lứa trong xóm người miền Nam thì tụi nó vẫn kêu là "xôi bắp", nghĩa là từ "xôi lúa" chỉ có người gốc miền Bắc gọi thôi. Nhưng rồi lần hồi thì cái từ "xôi lúa" cũng biến mất lúc nào không hay, ngay cả bố mẹ tôi trong nhà cũng thôi không gọi là "xôi lúa" nữa, mà dùng tiếng "xôi bắp" như ngoài xã hội, cũng như gọi "con heo" theo tiếng miền Nam chứ không gọi là "con lợn" như theo kiểu miền Bắc... Và thời gian trôi qua, ở Sài Gòn từ "xôi lúa" cũng chìm vào quá khứ, hầu như không còn ai nhắc đến, mọi người chỉ biết đến món "xôi bắp", cho dù được nấu theo kiểu miền Bắc... Sau này tôi có nghe một vài người miền Bắc gọi "xôi lúa, xôi bắp" là "xôi ngô", dĩ nhiên là như thế rồi, trái "bắp" kêu theo miền Nam thì miền Bắc gọi là quả "ngô", cũng như con heo là con lợn vậy...
Rồi gần đây trên những trang mạng, hay sách báo, khi nói về món "xôi bắp" nấu theo kiểu miền Bắc có đậu xanh, hành phi... thì tôi lại đọc được từ "xôi lúa" để chỉ xôi bắp (các bạn có thể vào Google gõ "xôi lúa" sẽ thấy), cũng không thấy nơi nào giải thích tại sao lại gọi như thế, cũng có người thắc mắc là tại sao một món ăn gần như chẳng thấy "lúa" đâu chỉ thấy "bắp", mà tên gọi "lúa" lại được đặt thay cho "bắp" (hay ngô), tôi cũng có thắc mắc tương tự, nhưng cũng chẳng tìm thấy được sách vở nào nói về điều này... Cách nay ít năm tình cờ tôi đọc được một quyển sách nói về các món ăn miền Bắc, trong đó có đoạn nói về "xôi lúa", những tưởng đã biết được gốc tích của từ "xôi lúa", nhưng lại không phải, tác giả viết sách cũng thắc mắc nhưng cũng không hiểu tại sao lại gọi là "xôi lúa" như thế, đoạn viết như thế này: "Món quà sáng rẻ tiền là xôi lúa, người Hà Nội lại không gọi nó là xôi ngô mà xôi lúa, có thể đây là từ cổ còn sót lại, nhưng ai gọi xôi ngô thì chắc người đó chưa ở Hà Nội lâu ngày, chưa là người Hà Nội."...
Mới đây có đọc được quyển sách Vân Đài Loại Ngữ của nhà bác học nước ta là Lê Quý Đôn sống vào thế kỷ 18, nơi quyển 9 nói về Phẩm vật, có chép thế này (nguyên văn trong sách):
"Về bắp (ngọc Thục Thử) sách Bổn Thảo chép: Giống như cây ý dĩ (cây bo bo), cây cao ba bốn thước, lòng cây mọc ra một cái bông, bông này mọc lên râu trắng, bông tách ra, hột chi chít gom lại màu vàng trắng trắng. Hột có thể rang mà ăn. Rang thì hột nổ như rang nếp. Ăn nổ này thì điều trung khai vị (điều hòa nội tạng và làm cho biết ăn ngon).
Hột này nước Nam gọi là lúa ngô (bắp).
Từ đầu niên hiệu Khang Hy (1662 - 1723) nhà Thanh, Trần Thế Vinh người ở huyện Tiên Phong thuộc lộ Sơn Tây, đi sứ mới bắt đầu được thứ giống lúa ngô này đem về nước. Cả một lộ Sơn Tây nhờ thứ lúa ngô này làm lương thực. Con trẻ ăn lúa ngô nhiều có thể đầy ruột.
Lúa ngô ở Nghệ An phần nhiều là giống trắng, ở Lạng Sơn thì có đủ năm màu."
Qua ký ức về "xôi lúa, xôi bắp", và qua những gì đã đọc xưa nay, tôi nhận ra được một điều, từ "xôi lúa" có lẽ là một từ cổ để chỉ "xôi bắp" như theo tác giả sách viết về các món ăn miền Bắc đã đặt câu hỏi, và từ "lúa" chính là từ "lúa" trong "lúa ngô", như trong sách của Lê Quý Đôn đã viết. Khi xưa ấy thời Lê Quý Đôn đã xem "bắp, hay ngô" như tên gọi bây giờ là một giống "lúa", còn từ "ngô" ngày xưa là để chỉ nước Trung Hoa, như chúng ta đã thấy trong tác phẩm "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi. Theo sách Vân Đài Loại Ngữ thì giống "lúa ngô" (bắp, ngô) chính là "lúa của người Ngô", mà Trần Thế Vinh đã đi sứ sang Trung Hoa mang về. Sau đó giống "lúa của người Ngô" đã được người Việt mình (lúc ấy chưa có miền Trung và miền Nam) đồ lên thành xôi để ăn và gọi là "xôi lúa" như chúng ta đã nghe tên...
Ấy là tôi theo sách vở mà phỏng đoán như thế...
Sách đã dẫn:
- Văn Hóa Ẩm Thực Việt Nam - Các món ăn miền Bắc, Băng Sơn - Mai Khôi (Biên khảo và sáng tác) - Nhà Xuất bản Thanh Niên tái bản năm 2002.
- Vân Đài Loại Ngữ, Lê Quý Đôn, Quyển 9 "Phẩm vật" - Bản dịch Tạ Quang Phát - Nhà Xuất bản Văn Hóa Thông Tin xuất bản năm 1995.


