PNH


Vãn giác văn chương chân tiểu kỹ... Tô Đông Pha.




Một góc nhìn...


Photobucket
Photobucket

Thứ Bảy, 13 tháng 10, 2012

Hà thành - Sài thành.

                                                          thành xưa.


                              Chở hoa loa kèn đi bán trên đường phố Hà thành.

                                                                                                                    Mùa thu Hà thành.
                                                                                              
Trong một entry trước, có bạn comment nhắc đến Hà thành và Sài thành, là cách gọi khác của Hà Nội và Sài Gòn, mà thỉnh thoảng chúng ta thường gặp trong sách vở, hay trên báo chí, như câu thơ nói về phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục: Trường Nghĩa Thục đứng đầu dạy dỗ/ Khắp ba mươi sáu phố Hà thành/ Gái trai nô nức học hành/ Giáo sư tám lớp học sinh non ngàn (Nam thiên phong vận ca - khuyết danh), còn về từ Sài thành trên báo chí người ta thường hay dùng, chẳng hạn "ẩm thực Sài thành năm xưa"...

Hà thành hay Sài thành là cách gọi rút gọn của tên gọi thành phHà Nội - thành phSài Gòn, đã có từ xưa, và ngày trước chđể gọi như thế về Hà Nội và Sài Gòn. Như chúng ta cũng đã biết, chữ "thành" thường được gọi và hiểu theo các nghĩa, là "thành thật", "chân thành", "thành bại", hay "thành lũy", tức là một khu đất có tường lũy bao quanh, có chu vi, là nơi vua chúa ở như thành Thăng Long dưới các triều Lý, Trần, Lê..., hoặc là nơi quan lại, quân lính để phòng thủ của một vùng đất, chẳng hạn thành Gia Định đất Sài Gòn xưa... nhưng chữ "thành" trong Hà thành, Sài thành, chắc chắn không phải để chỉ sự thành thật, chân thành, cũng không phải để chỉ "thành lũy", mà là chđể ch"thành thị", một vùng đất, một không gian rộng lớn không bị giới hạn bởi bốn bức tường thành, chỉ có vua chúa, quan lại hay binh lính, mà còn có các thành phần khác trong xã hội, người dân, thợ thủ công các ngành nghề, giới buôn bán kinh doanh lớn nhỏ, các tầng lớp trí thức, nghĩa là nơi phồn hoa đô hội...


                                             Đường Tự Do xưa ở Sài thành.


                                                     Nữ sinh Sài thành.


                                                          Phố chợ Sài thành.


Nếu Sài thành, thành phSài Gòn, chỉ mới có hơn 300 năm phát triển, thì Hà thành, thành phố Hà Nội đã có hơn 1000 năm lịch sử, với kinh thành Thăng Long xưa kia, và có ltên gọi thành đã có trước hết. Hà Nội là tên gọi được đặt từ năm 1831, dưới triều vua Minh Mạng. Trước đó, khi còn là kinh đô Thăng Long, thì Hà thành đã được gọi là Long thành, như chúng ta đã thấy trong một tác phẩm của đại văn hào Nguyễn Du, "Long thành cầm giả ca", bài ca về người gảy đàn ở thành Thăng Long.

Còn ở miền Nam, năm 1790 Nguyễn Ánh đã cho xây thành Quy, còn gọi là thành Bát Quái trên đất Sài Gòn xưa, sau khi xây xong gọi là Gia Định kinh thay cho Phú Xuân kinh đã thuộc về Quang Trung Nguyễn Huệ. Năm 1802 sau khi Nguyễn Ánh lấy được Phú Xuân và lên ngôi hoàng đế lấy hiệu là Gia Long, đã đổi Gia Định kinh là Gia Định thành, và Gia Định thành là để chỉ cả một vùng đất rộng lớn mà sau này là Nam kỳ lục tỉnh. Năm 1864, người Pháp cho thành lập hai thành phố riêng biệt là thành phố Sài Gòn (vùng Bến Nghé), và thành phố Chợ Lớn. Năm 1931, người Pháp nhập hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn làm một lấy tên là Khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn (Région De Saigon Cholon). Đến năm 1953 chính quyển Bảo Đại gọi thành phố Sài Gòn là Đô thành, và sau đó Sài Gòn là thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa, cho đến tháng 4 năm 1975...

Ở miền Nam, trước năm 1975 và những năm đầu tiếp theo thì từ "thành phố" là để chỉ riêng Sài Gòn, ở các tỉnh người dân vẫn dùng từ "người thành phố" để chỉ người dân Sài Gòn, bởi những năm tháng ấy chỉ có Sài Gòn được gọi là thành phố, các nơi khác gọi là tỉnh, thị xã, cho nên cũng như thành phố Hà Nội được gọi tắt là Hà thành, người dân được gọi là "người Hà thành, dân Hà thành" thành phố Sài Gòn cũng được gọi là Sài thành, và người dân được gọi là "người Sài thành, dân Sài thành".

Nhưng có một nơi cũng từng là kinh đô một thời trên một trăm năm là Phú Xuân - Huế, nhưng không ai gọi là "Phú thành" hay "Huế thành", có lẽ Phú Xuân - Huế là một nơi kinh thành cổ kính hơn là một thành phố tấp nập, phồn hoa đô hội... 

Bây giờ thì tên gọi thành phố đã được đặt cho rất nhiều nơi, chẳng hạn thành phố Đà Nẵng, thành phố Phan Rang, thành phố Cần Thơ,  thành phố Cà Mau, thành phố Tuyên Quang..., và trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng đã thấy gọi Đà thành để chỉ thành phố Đà Nẵng... Như vậy có lẽ chúng ta sẽ thấy xuất hiện nhiều cái "thành" khác, chẳng hạn Phan thành để chỉ thành phố Phan Rang, Cần thành để chỉ thành phố Cần Thơ, Tuyên thành để chỉ thành phố Tuyên Quang, hay... Cà thành để chỉ thành phố Cà Mau... .



                                                     
--> Read more..

Thứ Tư, 10 tháng 10, 2012

Bối diệp.

                                                  Lá buôn (lá buông) tươi.


                                                         Phơi lá buôn.


                                                 Làm kinh sách từ lá buôn.


                                                 Kinh sách làm bằng lá buôn.


Bối diệp là từ Hán - Việt có nghĩa là "lá bối", một loại lá mà ngày xưa người ta dùng để viết kinh sách thay cho giấy, xưa nữa thì con người dùng thân tre để khắc chữ trên đó, cho nên gọi là "thanh sử", sử xanh, như ta đã thấy viết trong truyện Kiều của Nguyễn Du "Cảo thơm lần giở trước đèn/ Phong tình cổ lục còn truyển sử xanh". 

Nói đến "lá bối", tôi chợt nhớ đến nhà xuất bản Lá Bối khi xưa tại Sài Gòn, một nhà xuất bản chuyên in những quyển sách hay của những người viết hay dịch giả có uy tín. Ngày xưa trước năm 1975 tại Sài Gòn có những nhà xuất bản như Lá Bối của nhà sư Từ Mẫn, Nhất Hạnh, An Tiêm của nhà sư Thanh Tuệ, hoặc Cảo Thơm, Kinh Thi... đều là những nhà xuất bản chuyên xuất bản những quyển sách có chất lượng, được đông đảo giới trí thức yêu thích tìm đọc.

Trong sách vở tôi thấy nói ngày xưa bên Ấn Độ kinh sách nhà Phật được viết trên lá bối, ở Việt Nam và nhiều nơi khác tại Đông Nam Á lá bối cũng được chép kinh sách, và ở Việt Nam được gọi bằng cái tên khác là lá buôn, lá buông. Trước năm 1975 thì lá buôn có rất nhiều ở Rừng lá, là một khu vực rộng lớn kéo dài từ Long Khánh đến tận Bình Tuy, bạn nào mà thời trước năm 75 có dịp đi xe đò (bây giờ thì gọi là xe khách), từ Sài Gòn đi các tỉnh miền Trung qua khu vực Rừng lá này thì biết, chỗ nào có nhà dân đều thấy phơi dọc theo quốc lộ loại lá buôn, lá dùng để chằm nón, giỏ xách..., xưa nữa thì để viết kinh sách, kết thành buồm dùng cho thuyền bè, làm áo tơi, giỏ đệm... Lá buôn có người gọi là lá kè, lá cọ... thuộc họ Cau.

Ngày xưa thời chiến tranh đi qua khu vực Rừng lá này rất sợ, vì thuở đó rừng còn rất um tùm, ra tận tới quốc lộ, thời ấy thỉnh thoảng tôi có dịp phải ngồi xe đò, hay xe quân sự đi ngang Rừng lá là... nín thở, qua khỏi rồi mới thở phào...

Bây giờ tôi muốn nói tới từ lá buôn, hoặc lá buông mà người dân hay gọi, theo sách "Sổ tay địa danh thành phố Hồ chí Minh" của nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ xuất bản năm 2012 tại Sài Gòn, thì từ "Lá Buôn" để gọi tên một con rạch nhỏ ở xã Long Hòa huyện Cần Giờ dài khoảng độ 2000m, đổ vào sông Hà Thanh. Lá buôn là loại cây rừng rất to lá hình rẻ quạt, dùng làm buồm, nón, quạt... tên chữ Hán là Bối diệp. Trước đây tôi cũng đã đọc được ở đâu đó giải thích về tên gọi lá buôn, lá buôn như chúng ta đã thấy được dùng buôn bán để làm buồm cho ghe thuyền (bây giờ ghe thuyền đã có máy đuôi tôm chạy bằng xăng dầu, không còn dùng buồm nữa), làm quạt, làm nón... cho nên mới được gọi là lá buôn (buôn bán), người miền Nam gọi thành lá buông, thêm chữ g phía sau. Về ngữ âm thì người dân Nam bộ hay lẫn lộn như thế, chẳng hạn cầu Long Kiểng được gọi thành Long Kiển (bỏ mất chữ g), gốc của từ là Long Cảnh, chữ Cảnh vì kỵ húy hoàng tử Cảnh mà đổi thành Kiểng, rồi lại đọc trại thành Kiển.

Nói về nói sai ngữ âm, hoặc viết sai chính tả thì người Nam bộ có cái rất... dễ thương là hay mắc phải, và ở mọi người, mọi tầng lớp chứ không riêng ai. Chẳng hạn chữ "giồng", chỉ vùng đất nổi cao thường ở ven sông, âm gốc là "vồng", hoặc ở ranh giới quận 7 và quận 8, từ rạch Bến Nghé đến rạch Bà Lào, có rạch Ông Lớn và rạch Ông Bé, thực ra tên của 2 con rạch này là Ong Lớn và Ong Bé, Ong ở đây là con ong, khu vực này ngày xưa là rừng có nhiều ong, dân vào lấy mật ong đem ra bán ở cây cầu gần đó, nên cầu có tên là cầu Mật. Ở huyện Cần Giờ có lẽ các bạn còn nhớ tên cây cầu Dần Xây, nguyên là một bến phà, sau được xây cầu, thời gian xây cứ ạch đụi kéo dài mãi, người dân đùa nói đúng là cầu "dần xây", tức là xây dần dần, từ từ, nhưng thực ra tên gốc của cầu là Giằng Xay, đây là tên của một loại cây gỗ tạp có nhiều ở vùng này, được dùng làm vị thuốc... 

Một vài tên gọi nữa chẳng hạn địa danh Cát Lái (bến phà) ở quận 2, theo sách địa danh thành phố HCM đã dẫn thì nguyên gốc là "Các Lái", nơi trước đây các (những) lái buôn đi buôn bán hay tập trung qua phà, hoặc con rạch ở Bình Chánh có tên gọi là rạch Cái Tắc, thì tên gọi gốc là rạch Cái Tắt, "tắt" có nghĩa là "đường tắt"...

Sách đã dẫn:

- Sổ tay Địa danh Thành phố Hồ Chí Minh, PGS. TS Lê Trung Hoa, Nguyễn Đình Tư, NXB Văn hóa - Văn nghệ, xuất bản năm 2012.
- Ảnh Internet.



--> Read more..

Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2012

Lan man ngày tháng...

                                                              Ảnh Internet.


Có anh bạn trẻ trong phòng làm việc nơi cơ quan tôi đang làm, thỉnh thoảng thắc mắc điều gì về chữ nghĩa hay lịch sử hay hỏi tôi, chẳng hạn gần đây khi đang thảo một văn bản hay làm báo cáo gì đó, anh bạn trẻ hỏi, chữ "chân" trong "chân thành" viết "ch" hay "tr"?. Tôi nói "ch", bởi vì "chân" này là "chân thật", "chân tình", còn "trân" viết "tr" là "quí báu", như "trân trọng" (quý trọng)... Lần khác anh chàng lại hỏi, chữ "qui củ" thì "củ" viết dấu ngã hay dấu hỏi? À, bởi vì anh chàng này người Nam bộ, cho nên hay lầm lẫn về chính tả giữa các từ ngữ, người ta hay nói "Đi hỏi già về nhà hỏi trẻ", thế là đúng rồi, tôi đích thị là... cụ già rồi. 

Tôi trả lời anh bạn trẻ "củ" viết dấu hỏi, nhân tiện tôi nói cho anh chàng biết về nghĩa gốc của chữ "qui củ". Cũng giống như những từ "can qua", "mâu thuẫn"..., nhưng từ "qui củ" không dùng để gọi tên binh khí xưa, mà là từ để chỉ dụng cụ của người thợ, đến nay vẫn còn được dùng. "Qui" có nghĩa là dụng cụ để vẽ hình tròn, còn "củ" là dụng cụ để vẽ vuông góc, mà trong Từ điển Hán - Việt của Đào Duy Anh đã giải thích rất rõ, cụ Đào Duy Anh còn chú thích thêm cả tiếng Pháp (compas et équerre), làm việc có qui củ có nghĩa là làm việc có kỷ luật, có phương pháp... 

Hôm qua nhân đọc entry "Bất hiếu hữu tam vô hậu vi đại" bên nhà ông bạn Bulukhin, giở lại Tứ thư (Mạnh Tử) Chương Ly Lâu thấy có viết: Mạnh Tử viết: Qui củ, phương viên chí chí giã (dã). Bản dịch của Đoàn Trung Còn: Cái qui (thước nhíp) và cái củ (thước nách) là khí cụ để cho tay thợ làm thành đồ tròn và đồ vuông. Như vậy cũng như những từ ngữ can qua, mâu thuẫn..., qui củ là một từ ngữ Hán Việt xưa, như rất nhiều từ ngữ vẫn còn được dùng trong tiếng Việt bây giờ, có điều với nhiều bạn trẻ bây giờ, viết đúng chính tả cũng đã là điều không dễ dàng, chưa nói đến việc hiểu rõ từ nguyên của chữ. Điều này cũng không thể trách các bạn trẻ được, bởi sách báo, kể cả từ điển mới in bây giờ, tôi có một số trong tay, mà mỗi lần tìm kiếm ý nghĩa của chữ mình chưa rõ lắm hoặc muốn tìm, thì khó lòng kiếm thấy, hoặc chỉ giải nghĩa sơ sài, thậm chí không chính xác... Những quyển từ điển tiếng Việt như của Hội Khai Trí Tiến Đức, do Phạm Quỳnh và một số học giả thời đầu thế kỷ 20 chủ biên, in tại Hà Nội năm 1931, ở Saigon in lại năm 1968, hoặc quyển từ điển Hán - Việt của Đào Duy Anh bản tôi có in tại Saigon năm 1956, tôi lại thường tìm được ý nghĩa của rất nhiều từ ngữ muốn tìm, chẳng hạn như giải thích về từ Qui củ bên trên, Đào Duy Anh còn ghi chú thêm cả tiếng Pháp trong từ điển Hán Việt...

Mấy hôm trước trên mạng cũng lùm xùm vụ có vị Tiến sĩ nói Bình Ngô đại cáo không phải của Nguyễn Trãi viết... Cộng đồng mạng cũng phản ứng và bài báo bị gỡ bỏ ngay sau đó... Hôm nay (7/10/2012), báo Người Lao Động lại đăng tin ở trang nhất về thực trạng bằng giả tràn lan trong giới công chức ở nước ta, học giả bằng giả là nguy hiểm, nhưng học giả bằng thật còn nguy hiểm hơn gấp bội...


--> Read more..

Thứ Tư, 3 tháng 10, 2012

Danh chấn thiên hạ.

                                                            Ảnh Internet.


Đọc trên báo ngày hôm nay tôi thấy có một tin ngắn đại ý nói, theo Công ty nghiên cứu thị trường toàn cầu (Euromonitor International) cho biết, năm 2011 Việt Nam tiêu thụ gần 2,6 tỷ lít bia, xếp hạng nhất Đông Nam Á, điều này chứng tỏ người mình cũng có cái đứng đầu, hơn thiên hạ, chứ không đến nỗi thua kém hoàn toàn... . Mấy hôm trước trên báo chí cũng đăng tin ở Bình Dương cấm công chức không mang vòng hoa đến phúng đám tang, và ở Hà Nội cũng có dự thảo cấm công chức không được tổ chức cưới hỏi đặt trên 50 bàn (ở Hà Nội tương đương 300 khách mời), và cũng không được tổ chức ở những nhà hàng khách sạn 5 sao sang trọng, có lẽ bởi đã có những đám cưới con nhà quan chức tổ chức quá hoành tráng, với "giàn xe khủng", nhà hàng siêu sang tốn tiền bạc tỉ...

Cũng có người sau khi đọc tin nói, đấy là chuyện riêng của người ta mắc gì mà cấm, người khác nói, cấm là phải, bởi vì chỉ có quan chức mới đình đám hoành tráng, lãng phí và khoe mẽ như thế, chứ công nhân viên lãnh lương ba cọc ba đồng, ăn uống lo cho con cái học hành còn không đủ lấy chi đâu mà lãng phí... Ở đây tôi không có ý bàn về những chuyện này, vì có lẽ đây là những chuyện khôn cùng, chín người mười ý, chẳng biết đâu mà lường... Tôi chỉ muốn nói về cái sự cấm này thì xưa xửa xừa xưa cũng đã có rồi. Sách Phong Tục Sử chép dưới triều Nguyễn có ghi rõ: Vào đời vua Lê Thần Tông thứ 14 (niên hiệu Vĩnh Thọ 1660) đã có lệnh cấm rượu, lệnh cấm ghi "Tục của dân lúc này thường ngày hay mượn cổ lệ làng tụ họp nhau chè chén kéo dài vô độ. Thế là định lệ cấm. Mọi người tế bái, ăn mừng, chay điếu, dân xã thờ thần cầu phúc dùng rượu có hạn định. Những kẻ cố ý uống rượu với nhau hay tụ hội uống rượu ở chợ thì giải quan để trị tội...". Không những thế sách cũng chép năm thứ 3 đời vua Thuần Tông (niên hiệu Long Đức 1735) cấm đồ dùng hoa mỹ, bởi tập tục trong dân gian ngày càng xa xỉ, bèn ra lệnh các đồ vật thường dùng của quan quân thứ dân, không được điêu khắc dáng chữ hoa mỹ... .

Như thế thì cũng đã rõ, dân ta có thói quen ăn nhậu, xa xỉ từ đời nào chứ chẳng phải bây giờ, và cái thói quen này có lẽ nó đã ăn vào máu, đã trở thành "gien" rồi, chẳng còn là hiện tượng nữa. Những người ngoại quốc mới đến Việt Nam, hoặc những người Việt xa xứ lâu ngày có dịp trở về xứ sở đều có chung một nhận xét, người Việt mình ăn nhậu ghê quá, bất cứ lúc nào, chỗ nào, góc đường góc phố bụi bặm, thậm chí cạnh hố ga, bãi rác cũng có thể hồn nhiên ngồi ăn uống, nhậu nhẹt, và cái sự nhậu mới ghê gớm, mấy ông bợm xứ mình có thói quen uống lấy được, nghĩa là ép nhau uống thật nhiều, vài người uống cả thùng bia hoặc hơn thế, rượu Tây giá bạc triệu (hoặc vài triệu) một chai mở ào ào, ai mà chưa quen đi ăn uống nhà hàng cứ giật mình thon thót vì những tiếng "dzô" khí thế, uống lấy... chết chứ không phải là để thưởng thức nữa... Và rồi thì "Hậu quả nhỡn tiền", đa số quí ông ham nhậu chưa già đã cao huyết áp, mỡ máu, tim, gan có vấn đề, "gút"... .

Người mình bị cho là dở trong nhiều vấn đề, nhưng dù sao trong cái sự ăn chơi  nhậu nhẹt, xa xỉ... cũng thuộc hàng cao thủ võ lâm, "danh chấn thiên hạ" chứ có chịu thua ai....



--> Read more..

Chủ Nhật, 30 tháng 9, 2012

Nhảy nhót.




Không biết cu cậu con trai tôi giống ai lại khoái nhảy nhót? . Bây giờ có nhiều thứ nhảy, thỉnh thoảng xem trên truyền hình thì thấy, chẳng hạn cuộc thi nhảy nhót gì đó đang diễn ra trên truyền hình, đủ mọi cách nhảy, nhảy tưng tưng, nhảy lộn tùng phèo, nhảy như... lên đồng... đủ cả. Mấy năm nay từ ngày ham nhảy nhót (cu cậu nhảy Dancesport, gọi nôm na là Khiêu vũ thể thao), thỉnh thoảng cu cậu cũng đăng ký đi dự thi, đủ thứ, giải thành phố hạng phong trào thiếu niên, rồi lên giải chuyên nghiệp thanh niên, mấy cái giải của sinh viên học sinh, thấy mang về đủ thứ huy chương, cúp, vương miện, bằng khen... Thỉnh thoảng tham dự cái giải nào khá khá (mấy cái giải thành phố mở rộng), lại nhờ bố mẹ đi quay phim, chụp hình, như các bạn đã thấy... Rồi bây giờ tốt nghiệp xong đại học, ban ngày đi làm, buổi tối lại đứng lớp dạy nhảy nhót... Có hôm gần nửa khuya mới mò về nhà, làm bà mẹ đứng ngồi không yên...

Vừa rồi trong 2 ngày 27 và 28 tháng 9 (2 buổi tối), cu cậu tham gia thi đấu tại giải vô địch Dancesport TP HCM năm 2012 mở rộng, tại nhà thi đấu Lãnh Binh Thăng quận 11, với 2 nội dung Rumba và Chachacha - Rumba, đều lọt vào chung kết, Rumba thì được Huy chương vàng, còn Chachacha - Rumba thì được Huy chương bạc, kể ra cũng bõ công bố mẹ dầm mưa đi quay phim chụp hình cổ vũ... .







Tiện đây tôi cũng post lên một vài hình ảnh của các cặp đôi khác thi đấu trong những điệu nhảy khác như điệu Valse lả lướt, Tango, Chachacha, Samba, Jive trẻ trung, Rumba tình tứ... mà tôi đã chụp...


                                                                  Valse

                                                                   Valse

                                                                   Jive

                                                                    Jive

                                                                  Tango

                                                                  Tango

                                                                   Valse

                                                                 Samba
--> Read more..